Sống ở xã An Thới Đông thường nhẹ hơn nội thành ở tiền nhà và tiền ăn nhờ đồ tươi địa phương, nhưng có những khoản đội lên mà người mới hay quên: đi lại đường dài và qua phà Bình Khánh, nước ngọt mùa khô, sửa chữa do hơi mặn ăn mòn, chi phí đi khám ở bệnh viện xa, và hàng hoá chở từ nơi khác về. Tổng chi tiêu phụ thuộc nhiều vào nghề, thói quen và nơi làm việc của từng nhà.
Bài này không nêu giá cụ thể, vì giá thay đổi theo thời gian và mỗi nhà một khác. Thay vào đó, bài liệt kê các khoản cấu thành chi phí sống ở xã, chỉ ra khoản nào thường thấp hơn, khoản nào thường cao hơn phố, khoản nào dễ bị bỏ sót, rồi hướng dẫn cách tự lập bảng chi tiêu cho gia đình mình trước khi quyết định về ở.
Vì sao không có con số chung
Câu hỏi "sống ở An Thới Đông một tháng tốn bao nhiêu" nghe đơn giản nhưng không có câu trả lời chung. Một nhà làm vuông tôm tự có cá tôm, trồng rau, ở nhà của mình, ít đi phố sẽ tiêu khác hẳn một nhà thuê trọ, mua hết đồ ăn, có người đi làm nội thành mỗi ngày. Một người độc thân làm việc từ xa tiêu khác một gia đình có hai con đi học, ông bà cần khám bệnh định kỳ.
Ngoài ra, nhiều khoản ở xã không tính bằng tiền mà bằng thời gian và công sức: thời gian đi chợ xa, công trữ nước mưa, công sửa nhà sau giông. Ngược lại, có những thứ có giá trị nhưng không mất tiền: rau vườn, cá bắt ngoài rạch, sự giúp đỡ của hàng xóm. Một bảng so sánh chỉ đếm tiền sẽ bỏ sót những điều này.
Vì vậy cách hữu ích nhất là hiểu chi phí gồm những khoản nào, khoản nào sẽ thay đổi ra sao khi chuyển từ phố về xã, rồi tự điền con số của gia đình mình. Phần còn lại của bài đi theo hướng đó.
Các khoản chi: thường thấp hơn, tương đương hay cao hơn nội thành
Bảng dưới là xu hướng chung theo kinh nghiệm của người sống ở các xã ven sông Cần Giờ, không phải số liệu khảo sát. Từng nhà có thể khác.
| Khoản chi | Xu hướng so với nội thành | Vì sao |
|---|---|---|
| Thuê nhà, đất ở | Thường thấp hơn | Nhu cầu ít, nhà cho thuê theo quen biết; nhưng nhà tốt, gần đường chính không nhiều để chọn |
| Đồ ăn tươi: hải sản, rau | Thường thấp hơn | Mua gần nguồn, ít trung gian; nhà làm nghề tự có một phần |
| Hàng công nghiệp, đồ dùng | Tương đương hoặc nhỉnh hơn | Chi phí chở từ nơi khác về, ít khuyến mãi lớn |
| Nước sinh hoạt | Có thể cao hơn vào mùa khô | Nhà chưa có nước máy phải mua nước; đầu tư lu bồn, lọc nước |
| Điện | Tương đương; mùa nóng có thể cao | Biểu giá chung; nhà mái tôn nóng chạy quạt, máy lạnh nhiều |
| Đi lại | Thường cao hơn | Quãng đường dài, xăng xe, phí qua phà, hao mòn xe |
| Sửa chữa nhà và đồ dùng | Thường cao hơn | Hơi mặn và ẩm làm kim loại, đồ điện hỏng nhanh; giông gió làm hư mái |
| Y tế | Có thể cao hơn | Khám chuyên khoa phải đi xa, tốn đi lại, có khi ở lại qua đêm |
| Học hành của con | Tuỳ cấp học | Học ở xã ít tốn; học thêm, năng khiếu, cấp cao hơn có thể tốn đi lại, ở trọ |
| Giải trí, ăn ngoài | Thường thấp hơn | Ít hàng quán, ít dịp tiêu; nhưng lên phố chơi thì tốn thêm đi lại |
Đọc theo cột phải sẽ thấy một quy luật: khoản nào gắn với đất và nguồn tại chỗ thì rẻ hơn, khoản nào gắn với khoảng cách thì đắt hơn. Gia đình càng ít phải đi xa, càng dùng nhiều đồ địa phương thì chi phí sống ở xã càng nhẹ.
Một ví dụ giả định: hai gia đình, hai bảng chi
Để thấy vì sao không có con số chung, hãy hình dung hai gia đình cùng bốn người, cùng ở xã An Thới Đông. Gia đình thứ nhất ở nhà của mình phía Lý Nhơn cũ, chồng nuôi vuông tôm, vợ làm muối theo mùa, hai con học trường trong xã. Họ tự có một phần cá tôm, trồng rau quanh nhà, hứng nước mưa và đã có nước máy, mỗi tháng chỉ đi phố một hai lần. Phần lớn chi tiêu của họ là gạo, gia vị, điện, xăng xe đi ruộng, học phí và đồ dùng học tập của con, cộng các khoản theo vụ như giống, thức ăn tôm.
Gia đình thứ hai thuê nhà gần đường Rừng Sác, chồng đi làm nội thành mỗi ngày, vợ làm việc qua mạng, con nhỏ gửi nhóm trẻ. Họ mua gần như toàn bộ đồ ăn, tiền xăng và phí qua phà là khoản lớn, xe phải bảo dưỡng thường xuyên, mạng internet phải có hai đường để vợ làm việc. Tiền nhà của họ có thể thấp hơn hẳn so với thuê ở phố, nhưng phần tiết kiệm đó bị khoản đi lại lấy lại khá nhiều.
Hai bảng chi này khác nhau không phải vì một nhà khéo hơn nhà kia, mà vì cấu trúc cuộc sống khác nhau. Ví dụ trên là giả định, không có con số, chỉ để thấy rằng câu hỏi đúng không phải "ở xã tốn bao nhiêu" mà là "với cách sống của nhà mình, ở xã tốn bao nhiêu".
Những khoản dễ quên khi tính chuyện về xã
Hao mòn xe. Người chỉ tính tiền xăng thường quên rằng xe chạy đường dài mỗi ngày, lại ở vùng có hơi mặn, phải thay lốp, phanh, xích, sơn chống rỉ thường xuyên hơn. Tuổi thọ xe ngắn lại cũng là một khoản chi.
Thời gian đi lại quy ra cơ hội. Vài giờ mỗi ngày trên đường là vài giờ không làm thêm, không học, không ở bên gia đình. Không phải ai cũng tính khoản này bằng tiền, nhưng nên biết nó tồn tại.
Đầu tư ban đầu cho nhà ở. Lu bồn trữ nước, lưới chống muỗi, nâng ổ điện, gia cố mái, đèn sạc, máy lọc nước nếu cần. Những khoản này không lặp lại hằng tháng nhưng dồn vào năm đầu.
Đồ hỏng vì mặn và ẩm. Quạt, tủ lạnh, máy giặt, xe máy, đồ gỗ ở vùng ven sông xuống cấp nhanh hơn. Tính một khoản dự phòng mỗi năm cho sửa và thay đồ là thực tế.
Chi phí ở lại phố khi cần. Những ngày đi khám bệnh, làm giấy tờ, mưa bão không về được có thể phải ngủ lại phố, ăn ngoài. Số ngày ít nhưng mỗi lần đều tốn.
Giỗ chạp, đám tiệc trong xóm. Ở xã, quan hệ xóm giềng thân thiết đi kèm những khoản mừng cưới, phúng điếu, góp giỗ, góp việc chung của ấp. Đây là nét đẹp, nhưng người mới nên biết để không bất ngờ.
Tự lập bảng chi tiêu trước khi quyết về ở
Cách đáng tin nhất để biết sống ở An Thới Đông tốn bao nhiêu với gia đình mình là tự lập bảng theo các bước dưới đây, dựa trên số liệu thật mà bạn hỏi được hoặc ghi lại khi ở thử.
- Ghi chi tiêu hiện tại ở phố trong một hai tháng, chia theo khoản: nhà, ăn, điện nước, đi lại, y tế, học hành, giải trí, khác.
- Với mỗi khoản, đánh dấu khoản đó sẽ tăng, giảm hay giữ nguyên khi về xã, dựa trên bảng xu hướng ở trên.
- Hỏi giá thật tại chỗ cho những khoản lớn: tiền thuê nhà, tiền nước, chi phí đấu nối nước máy, chi phí đi lại theo lộ trình của bạn — hỏi chủ nhà, hàng xóm, các đơn vị liên quan.
- Thêm các khoản đầu tư ban đầu và khoản dự phòng sửa chữa hằng năm, chia đều ra theo tháng.
- Nếu có người trong nhà đổi việc khi về xã, tính cả thay đổi về thu nhập, không chỉ chi tiêu.
- Ở thử vài tuần, ghi lại chi tiêu thật, so với bảng dự tính và chỉnh lại.
Bảng này có thể chỉ ra những điều bất ngờ: có nhà thấy về xã tiết kiệm được đáng kể, có nhà thấy gần như hoà vì tiền đi lại ăn hết phần tiết kiệm từ tiền nhà. Biết trước giúp quyết định dựa trên số của chính mình chứ không phải cảm giác "về quê chắc rẻ".
Cách người trong xã giữ chi tiêu nhẹ
Người sống lâu năm ở An Thới Đông có nhiều cách giữ chi tiêu vừa phải mà không phải thắt lưng buộc bụng. Ăn theo mùa là cách đầu tiên: mùa nào thứ nấy, cá tôm cua ốc theo con nước, rau theo mùa mưa nắng, vừa tươi vừa rẻ. Nhiều nhà trồng một liếp rau, vài bụi ớt, cây chanh, giàn bầu bí quanh nhà, đủ ăn hằng ngày, chỉ mua thêm thứ không trồng được.
Cách thứ hai là gom việc đi phố, như đã nói ở bài về đi chợ: mỗi chuyến đi xa giải quyết nhiều việc, nhờ nhau mua giúp. Cách thứ ba là giữ đồ dùng bền: chọn đồ chống rỉ, bảo dưỡng định kỳ, sửa sớm khi mới hỏng nhẹ. Ở vùng mặn, một con vít rỉ thay sớm có thể cứu cả tấm tôn.
Cách thứ tư là dựa vào nhau. Ở xã nhỏ, hàng xóm cho mượn đồ, đổi rau lấy cá, góp công sửa nhà, trông trẻ giúp nhau là chuyện thường. Những trao đổi không tính tiền này làm chi phí sống thực tế thấp hơn nhiều so với con số trên giấy. Người mới về muốn được hưởng điều đó thì cũng cần góp phần mình: giúp lại khi hàng xóm cần, tham gia việc chung của ấp.
Thu nhập ở xã: nhìn hai mặt của bảng tính
Bàn chi phí mà không bàn thu nhập thì chỉ thấy một nửa. Ở An Thới Đông, nguồn thu của nhiều nhà đến từ nghề muối, tôm, cua, giữ rừng, đánh bắt, buôn bán nhỏ, làm thuê theo vụ và lương của người đi làm phố. Thu nhập từ nghề thường theo vụ, theo mùa: có tháng nhiều, có tháng gần như không có. Nhà làm nghề vì vậy quen để dành từ vụ trúng để bù vụ thất, và thường dè dặt với những khoản chi cố định hằng tháng.
Người từ phố chuyển về với thu nhập ổn định từ công việc từ xa hoặc lương hưu sẽ thấy chi phí sống ở xã dễ chịu. Người về để làm nghề mới cần chuẩn bị cho giai đoạn đầu thu nhập thấp và bấp bênh. Cách an toàn là giữ một khoản dự phòng đủ cho vài tháng chi tiêu, và không dồn hết vốn vào một vụ nuôi hay một khoản đầu tư khi chưa hiểu rõ nghề.
Câu hỏi thường gặp
Sống ở An Thới Đông có rẻ hơn nội thành không?
Thường tiền nhà và tiền ăn đồ tươi thấp hơn, nhưng đi lại, nước mùa khô, sửa chữa do mặn ăn mòn và y tế xa có thể cao hơn. Tổng chi tiêu phụ thuộc vào nghề, thói quen và việc có phải đi phố thường xuyên hay không. Cách chắc nhất là tự lập bảng chi tiêu và ở thử trước khi quyết.
Khoản nào người mới về xã hay quên tính nhất?
Hao mòn xe do chạy đường dài và hơi mặn, đầu tư ban đầu cho nhà như lu bồn, lưới chống muỗi, gia cố mái, khoản sửa đồ điện hỏng nhanh hơn, chi phí ở lại phố khi đi khám bệnh hay gặp mưa bão, và các khoản đám tiệc, góp việc chung trong xóm.
Vì sao bài không nêu giá thuê nhà hay giá thực phẩm?
Giá thay đổi theo thời gian, theo vị trí trong xã và theo từng người bán, nên một con số cụ thể dễ sai và gây hiểu lầm. Bài tập trung vào các khoản cấu thành và xu hướng để bạn tự hỏi giá thật tại chỗ, phù hợp với hoàn cảnh của gia đình mình.
Tiền nước ở xã có đắt không?
Nhà có nước máy trả theo biểu giá chung của thành phố. Nhà chưa có nước máy, dùng nước mưa và mua nước chở tới vào mùa khô có thể tốn hơn, chưa kể chi phí đầu tư lu bồn, lọc nước. Tính khoản nước theo cả năm, gồm mùa mưa và mùa khô, sẽ thấy rõ hơn.
Làm sao giảm chi phí đi lại khi ở xã?
Gom việc để mỗi chuyến đi phố giải quyết được nhiều thứ, đi chung xe với hàng xóm, chọn giờ đi tránh kẹt ở đầu phà, bảo dưỡng xe định kỳ để đỡ hỏng vặt. Nếu nghề cho phép, làm việc từ xa vài ngày mỗi tuần cũng giảm đáng kể số chuyến đi.
Thu nhập ở xã có ổn định không?
Nghề muối, tôm, cua, đánh bắt phụ thuộc thời tiết, dịch bệnh và giá cả nên thu nhập theo vụ, không đều hằng tháng. Người có lương ổn định từ công việc từ xa hoặc đi làm phố sẽ ít chịu ảnh hưởng hơn. Giữ khoản dự phòng vài tháng và tránh dồn hết vốn vào một vụ là cách nhiều nhà trong xã vẫn làm.