Nghề đánh bắt ở An Thới Đông diễn ra trên sông Soài Rạp ở phía tây xã, các nhánh sông và hàng trăm con rạch len vào rừng và đồng muối; người dân dùng ghe nhỏ đặt đáy, giăng lưới rê, đặt lú, câu, và những người không có ghe thì xuống bãi bùn bắt ba khía, cá kèo, ốc khi nước ròng. Đây là nghề cho tiền hằng ngày, không phải chờ cuối vụ như muối hay tôm, nhưng sản lượng thất thường và nguồn lợi tự nhiên được nhiều người kể là thưa dần qua các năm.
Bài này đi qua các nghề đánh bắt quen thuộc trong xã, mỗi nghề gắn với con nước nào, mùa nào, những rủi ro trên sông lớn, và các quy định cấm cần biết. Mô tả ở mức chung theo những gì phổ biến ở vùng cửa sông Nam Bộ; người định làm nghề nên tìm hiểu thêm quy định khai thác thuỷ sản hiện hành của thành phố.
Sông Soài Rạp: dòng sông lớn của phía tây xã
Sông Soài Rạp là một trong những dòng sông lớn đổ ra biển ở vùng Cần Giờ, tách xã An Thới Đông với vùng Cần Giuộc, Cần Đước thuộc tỉnh Long An cũ, nay là tỉnh Tây Ninh. Mặt sông rộng, nước đục màu phù sa, dòng chảy đổi chiều theo thuỷ triều, mạnh nhất vào những ngày nước rong. Đây cũng là tuyến luồng có tàu thuyền qua lại, nên người đánh bắt trên sông phải để ý luồng tàu.
Ven bờ sông phía xã là những dải rừng mắm, đước, dừa nước xen với bờ vuông và những bến ghe nhỏ của các hộ làm nghề. Bãi bồi ở những khúc sông nước chảy chậm lớn dần lên theo phù sa, trong khi những khúc dòng chảy mạnh lại bị xói lở. Người đánh bắt nhìn bờ sông thay đổi qua từng năm như nhìn một tấm bản đồ sống của nghề mình.
Từ sông lớn, nước đi vào các nhánh sông, rồi tỏa ra thành những con rạch lớn nhỏ len vào rừng ngập mặn và vùng vuông muối của xã. Mỗi con rạch có tên gọi riêng của người địa phương, có khúc sâu, khúc cạn, có bãi bùn lộ ra khi nước ròng. Người đánh bắt lâu năm thuộc từng khúc rạch như người nông dân thuộc từng thửa ruộng.
Nước sông thay đổi độ mặn theo mùa: mùa khô mặn hơn, mùa mưa ngọt hơn khi nước thượng nguồn đổ về. Theo đó, loài cá tôm xuất hiện nhiều cũng thay đổi; mùa này nhiều tôm, mùa kia nhiều cá đối, cá kèo. Người làm nghề chọn ngư cụ và nơi đánh theo mùa, không làm một kiểu quanh năm.
Những nghề đánh bắt quen thuộc
Đáy sông. Đáy là loại lưới hình phễu rất dài, miệng lớn, được cố định giữa dòng bằng cọc hoặc neo; nước chảy mạnh theo triều đưa cá tôm vào túi đáy. Người làm đáy dỡ đáy vào lúc nước chuyển, khi dòng chảy yếu. Nghề đáy cần vị trí đặt đáy, có khi phải theo quy định của địa phương về khu vực được phép đặt để không cản luồng.
Lưới rê. Lưới rê là tấm lưới dài thả trôi hoặc cố định theo dòng, cá bơi qua bị mắc mang vào mắt lưới. Mỗi cỡ mắt lưới hợp với một cỡ cá; dùng lưới quá dày bắt cả cá non là điều quy định khai thác thường hạn chế.
Lú, lờ. Lú là loại bẫy lưới dài có nhiều ngăn, đặt dưới đáy rạch, tôm cua cá chui vào theo đường dẫn mà không ra được. Lú rẻ, dễ đặt, hợp với người làm một mình bằng xuồng nhỏ. Đặt lú dày đặc ở mọi khúc rạch lại là một trong những nguyên nhân làm nguồn lợi cạn đi.
Câu. Câu tay, câu giăng bắt cá dứa, cá chẽm, cá kèo hay cá đối tuỳ mùa. Nghề câu ít tác động tới nguồn lợi, cho sản phẩm tươi, giá tốt, nhưng thu nhập bấp bênh.
Bắt ba khía, cá kèo, ốc trên bãi. Khi nước ròng, bãi bùn ven rạch lộ ra. Người dân đi bắt ba khía trong hang, bắt cá kèo bằng tay hay ống, nhặt ốc len, ốc bùn. Nghề này không cần ghe, chỉ cần sức và kinh nghiệm, thường do phụ nữ và người lớn tuổi làm. Ba khía bắt về có thể bán tươi hoặc làm mắm ba khía.
Đánh bắt theo con nước: một đêm làm đáy
Nghề đáy cho thấy rõ nhất chuyện sống theo con nước. Đáy được đặt ở vị trí cố định, miệng hướng ngược dòng. Khi nước lên, dòng chảy vào sông đưa cá tôm vào túi đáy; khi nước sắp đứng, người làm đáy chèo ghe ra, dỡ túi đáy, đổ cá tôm vào ghe, rồi buộc lại hoặc xoay miệng đáy cho chiều nước ngược lại. Mỗi ngày có thể dỡ đáy nhiều lần, phần lớn rơi vào ban đêm hoặc rạng sáng.
Những ngày nước rong là ngày đáy được mùa, vì nước chảy mạnh, cá tôm theo dòng nhiều. Ngày nước kém, dòng yếu, đáy ít hàng, có khi không đủ tiền dầu chạy ghe. Người làm đáy vì thế nghỉ ngơi, vá lưới, sửa ghe vào những ngày nước kém và thức trắng những đêm nước rong.
Sản phẩm từ đáy là hỗn hợp nhiều loài: tôm nhỏ, cá nhỏ, cá đối, cá dứa, đôi khi cua, ghẹ. Phần ngon bán tươi ở chợ hoặc cho thương lái; phần cá tôm nhỏ có thể phơi khô, làm mắm hoặc bán làm thức ăn cho cua, cá nuôi. Một đêm làm đáy được bao nhiêu phụ thuộc mùa, con nước và cả may mắn.
Nghề nào, mùa nào, con nước nào
Bảng dưới gom các nghề đánh bắt thường gặp với điều kiện làm nghề. Đây là khái quát theo kinh nghiệm chung ở vùng cửa sông, chi tiết thay đổi tuỳ từng khúc sông và từng năm.
| Nghề | Nơi làm | Con nước thuận | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Đáy | Sông lớn, nhánh sông chảy mạnh | Nước rong, dỡ lúc nước chuyển | Cần ghe, vị trí đặt; chú ý luồng tàu |
| Lưới rê | Sông, rạch lớn | Tuỳ loài, thường lúc nước chảy vừa | Cỡ mắt lưới theo quy định |
| Lú | Rạch nhỏ, mép rừng | Đặt qua đêm, thăm lúc nước ròng | Rẻ, dễ làm; đặt dày làm cạn nguồn lợi |
| Câu | Sông, rạch, cửa cống | Nước chảy nhẹ, đầu con nước | Tác động thấp; thu nhập thất thường |
| Bắt ba khía, cá kèo, ốc | Bãi bùn ven rạch | Nước ròng sâu, nhất là nước rong | Không cần ghe; cẩn thận bùn lún, nước lên |
Nhìn qua bảng, có thể thấy một người làm nghề sông nước giỏi thường biết nhiều nghề và đổi nghề theo con nước, theo mùa, không gắn chặt với một loại ngư cụ.
Những điều bị cấm và vì sao
Pháp luật thuỷ sản và các quy định của thành phố đặt ra những giới hạn cho nghề đánh bắt, nhằm giữ nguồn lợi cho chính người làm nghề lâu dài. Những điều thường được nhắc tới:
- Cấm dùng chất nổ, xung điện, hoá chất độc để khai thác thuỷ sản; đây là các hành vi bị pháp luật nghiêm cấm và có thể bị xử lý nặng.
- Hạn chế hoặc cấm dùng một số loại ngư cụ có mắt lưới quá nhỏ, bắt cả cá tôm non; quy định cụ thể về kích thước mắt lưới theo văn bản hiện hành.
- Có những khu vực, mùa vụ cấm hoặc hạn chế khai thác để bảo vệ nơi sinh sản, nơi ương nuôi của cá tôm, nhất là trong rừng phòng hộ.
- Không đặt ngư cụ cản trở luồng giao thông thuỷ trên sông lớn.
- Phương tiện, ngư cụ có thể phải đăng ký, người điều khiển ghe máy có thể cần giấy tờ theo quy định về giao thông đường thuỷ nội địa.
Người làm nghề nên hỏi cán bộ phụ trách nông nghiệp của xã hoặc cơ quan quản lý thuỷ sản của thành phố để biết quy định đang áp dụng cho khu vực mình, vì các quy định này có thể được sửa đổi. Tuân thủ không chỉ tránh bị phạt, mà còn giữ cho con rạch nhà mình còn cá tôm vào năm sau.
An toàn trên sông lớn
Sông Soài Rạp rộng và có tàu lớn qua lại, nên đánh bắt trên sông nguy hiểm hơn trong rạch nhỏ. Ghe nhỏ dễ bị sóng tàu lớn đánh lắc, nhất là khi đang dỡ đáy, kéo lưới. Ban đêm, ghe không có đèn hiệu khó được tàu khác nhìn thấy. Những người làm nghề lâu năm luôn để ý luồng tàu, tránh neo ghe giữa luồng, mang đèn và giữ ghe ở mép sông khi tàu lớn đi qua.
Thời tiết cũng là mối nguy. Mùa mưa có những cơn giông đến nhanh, gió mạnh làm mặt sông nổi sóng chỉ trong ít phút. Mùa khô gió chướng thổi mạnh vào buổi chiều, làm sóng lớn trên mặt sông rộng. Người đánh bắt nên theo dõi dự báo, quay vào rạch khi thấy trời chuyển, và luôn mang áo phao.
Trên bãi bùn, nguy hiểm đến từ bùn lún và nước lên. Người bắt ba khía, cá kèo có thể lún sâu tới gối, tới đùi ở những chỗ bùn non; nếu nước bắt đầu lên mà chưa kịp rút, rất nguy hiểm. Đi theo nhóm, nắm rõ giờ nước, không đi quá xa bờ và không mang quá nặng là những thói quen giữ mạng của người làm nghề bãi.
Nguồn lợi thưa dần và những thay đổi trong nghề
Nhiều người làm nghề sông nước ở vùng Cần Giờ kể rằng sản lượng đánh bắt mỗi chuyến không còn như mười, hai mươi năm trước. Các nguyên nhân thường được nhắc tới gồm số người, số ngư cụ tăng lên, ngư cụ mắt lưới nhỏ bắt cả cá non, các hành vi khai thác huỷ diệt, ô nhiễm từ thượng nguồn, và những thay đổi của dòng chảy, độ mặn. Không có số liệu chính thức cho riêng xã để đo mức giảm, nhưng xu hướng được nhiều người cảm nhận giống nhau.
Trước tình hình đó, một phần người làm nghề sông chuyển sang nuôi tôm, cua, làm thuê, hoặc đi làm ở nội thành. Một phần khác giữ nghề nhưng thay đổi cách làm: đánh bắt chọn lọc hơn, giữ cá tôm tươi tốt hơn để bán được giá cao hơn thay vì bắt nhiều. Một số nơi ở các vùng ven biển khác đã thử mô hình đồng quản lý, giao cho cộng đồng ngư dân quyền và trách nhiệm quản lý nguồn lợi ở một khu vực.
Với An Thới Đông, nghề đánh bắt nhỏ có lẽ sẽ còn tồn tại lâu, vì nó gắn với đời sống hằng ngày và chi phí vào nghề thấp. Nhưng việc nó còn cho người làm nghề một thu nhập đủ sống hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc nguồn lợi trong sông rạch được giữ thế nào trong những năm tới.
Câu hỏi thường gặp
Ba khía là con gì?
Ba khía là một loài cua nhỏ sống ở bãi bùn rừng ngập mặn và ven rạch nước lợ, càng có màu tím đỏ, mai có các vạch khía. Người miền Tây và vùng ven biển Nam Bộ bắt ba khía để làm mắm ba khía, một món ăn dân dã quen thuộc. Ba khía thường được bắt vào ban đêm khi nước ròng.
Đánh bắt trên sông Soài Rạp có cần giấy phép không?
Tuỳ quy mô, loại phương tiện và ngư cụ, người khai thác thuỷ sản có thể phải đăng ký phương tiện, ngư cụ hoặc có giấy tờ theo quy định của pháp luật thuỷ sản và giao thông đường thuỷ. Đánh bắt nhỏ ven bờ có quy định riêng. Nên hỏi cán bộ phụ trách nông nghiệp của xã để biết cụ thể.
Vì sao đáy thường dỡ vào lúc nước chuyển?
Lúc nước chuyển, tức là khi thuỷ triều sắp đổi chiều, dòng chảy yếu nhất, ghe dễ tiếp cận và giữ vị trí cạnh đáy, việc dỡ túi đáy an toàn hơn. Khi dòng chảy mạnh, lưới đáy căng, rất khó và nguy hiểm để kéo lên. Vì thế giờ dỡ đáy dịch theo giờ nước mỗi ngày.
Đi bắt cá kèo trên bãi bùn có nguy hiểm không?
Có những nguy hiểm thật: bùn lún sâu ở chỗ bùn non, nước lên nhanh khi triều đổi, vỏ hàu, vỏ ốc sắc cứa chân, và muỗi, côn trùng. Người không quen nên đi cùng người địa phương, nắm rõ giờ nước, mang ủng hoặc giày bảo hộ phù hợp và không đi xa bờ.
Cá tôm đánh bắt ở sông bán ở đâu?
Phần lớn được bán cho thương lái đi gom tại bến, bán ở các chợ trong xã và vùng lân cận, hoặc bán thẳng cho người quen, nhà hàng. Cá tôm nhỏ có thể phơi khô, làm mắm hoặc bán làm thức ăn cho cua, cá nuôi. Giữ đá lạnh ngay khi bắt giúp bán được giá tốt hơn.
Có mùa cấm đánh bắt trên sông không?
Một số địa phương có quy định về khu vực và thời gian cấm hoặc hạn chế khai thác để bảo vệ mùa sinh sản của các loài thuỷ sản. Danh mục khu vực, thời gian cấm và loài được bảo vệ được ban hành bằng văn bản và có thể thay đổi. Người làm nghề nên cập nhật thông tin từ chính quyền xã và cơ quan quản lý thuỷ sản.