AnThoiDong.comAn Thới Đông
Nghề muối, tôm và rừng

Nuôi tôm ao lót bạt ở An Thới Đông: điện, nước, bùn thải và những gì phải tính

Nuôi tôm thẻ ao lót bạt ở An Thới Đông cho năng suất cao nhưng đòi điện ổn định, ao lắng, xử lý bùn thải và kỷ luật an toàn sinh học. Những điều phải tính trước.

Several square plastic-lined shrimp ponds with paddle wheel aerators churning white foam, small sheds on the dikes, a worker from behind checking feed tray, bright midday

Nuôi tôm ao lót bạt ở An Thới Đông là kiểu nuôi mật độ cao, thường là tôm thẻ chân trắng, trong những ao nhỏ phủ bạt nhựa kín đáy và bờ, chạy quạt nước gần như suốt ngày đêm, cho ăn thức ăn công nghiệp, và có ao lắng, ao chứa để xử lý nước trước khi đưa vào nuôi. Kiểu nuôi này cho năng suất trên mỗi mét vuông cao hơn nhiều so với vuông quảng canh, nhưng vốn lớn, chi phí vận hành cao, và mỗi sự cố về điện, nước hay bệnh đều có thể gây thiệt hại lớn trong thời gian rất ngắn.

Ở các xã vùng Cần Giờ, mô hình này xuất hiện ở những khu đất gần đường điện, gần đường giao thông, thường là ruộng muối hoặc vuông cũ được cải tạo. Bài này không hướng dẫn kỹ thuật nuôi chi tiết, mà giúp người dân trong xã hiểu mô hình gồm những gì, những điểm đặc thù khi làm ở vùng ven rừng ngập mặn, và các mặt phải tính trước khi bỏ vốn. Không có con số vốn hay lợi nhuận nào trong bài là số thực tế.

Một khu ao lót bạt gồm những gì

Khác với vuông quảng canh chỉ là một khoảnh nước, một khu nuôi lót bạt thường là một hệ thống nhiều ao có chức năng riêng. Ao chứa lấy nước từ rạch, để lắng phù sa và xử lý mầm bệnh; ao sẵn sàng giữ nước đã xử lý để cấp cho ao nuôi khi cần; các ao nuôi nhỏ, hình vuông hoặc tròn, lót bạt kín, có hố xi phông ở giữa để hút chất thải; và ao hoặc khu chứa nước thải, bùn thải trước khi xả hay đem đi xử lý.

Mỗi ao nuôi có quạt nước, nhiều khu dùng thêm hệ thống sục khí đáy. Thức ăn được cho bằng tay hoặc máy cho ăn, có sàng ăn để kiểm tra lượng tôm ăn. Nhiều khu dựng mái che bằng lưới hoặc nhà màng để giảm tác động của nắng gắt và mưa lớn. Điện là xương sống của cả hệ thống, kèm theo máy phát điện dự phòng.

Có nơi nuôi nhiều giai đoạn: tôm giống được ương trong ao nhỏ hoặc bể ương một thời gian cho cứng cáp, rồi mới chuyển sang ao nuôi lớn. Cách này rút ngắn thời gian tôm ở ao thịt, giảm rủi ro, nhưng cần thêm hạ tầng và kỹ thuật. Nói gọn, đây là một cơ sở sản xuất có tính công nghiệp hơn là một vuông nuôi của nông hộ.

Điện: thứ không được phép đứt

Vì sao điện quan trọng tới vậy. Ở mật độ cao, lượng ô xy hoà tan trong ao gần như hoàn toàn phụ thuộc vào quạt nước và sục khí. Mất điện vào ban đêm, khi tảo không quang hợp, lượng ô xy có thể tụt rất nhanh; nếu không có điện dự phòng, tôm có thể chết hàng loạt trong vài giờ.

Điện lưới ở vùng xa. Nhiều khu đất trong xã nằm cách đường điện chính khá xa; kéo điện về ao cần thủ tục với ngành điện và chi phí đầu tư đường dây, trạm biến áp, phải tính ngay từ đầu. Điện dùng cho sản xuất có biểu giá và yêu cầu kỹ thuật riêng, nên hỏi đơn vị điện lực khu vực.

Máy phát dự phòng. Khu ao lót bạt nào cũng cần máy phát đủ công suất chạy quạt cho toàn bộ ao, luôn có sẵn nhiên liệu và được chạy thử định kỳ. Máy phát hỏng đúng đêm mất điện là kịch bản xấu thường được người nuôi kể lại.

An toàn điện quanh ao. Nước mặn, độ ẩm cao và dây điện chạy quanh ao là tổ hợp nguy hiểm. Dây phải đi cao, có ống bảo vệ, có thiết bị chống giật; người làm không tự ý đấu nối khi không có chuyên môn. Tai nạn điện ở ao nuôi không hiếm ở các vùng nuôi tôm.

Nước: lấy từ rạch, xử lý trước khi vào ao

Ao lót bạt vẫn phải lấy nước từ rạch và sông như vuông quảng canh, nhưng không đưa thẳng vào ao nuôi. Nước được bơm vào ao chứa, lắng, xử lý theo quy trình kỹ thuật để giảm mầm bệnh và sinh vật mang mầm bệnh, rồi mới cấp cho ao nuôi. Vì phải giữ một lượng nước đã xử lý lớn, diện tích ao chứa và ao lắng thường chiếm một phần đáng kể so với diện tích ao nuôi; người mới hay quên tính phần đất này.

Ở An Thới Đông, độ mặn nước sông thay đổi mạnh giữa mùa khô và mùa mưa. Tôm thẻ chân trắng chịu được dải độ mặn khá rộng, nhưng thay đổi đột ngột vẫn làm tôm sốc. Mùa mưa, khi nước rạch nhạt, nhiều khu phải chủ động trữ nước mặn từ trước hoặc giảm thay nước. Mùa khô, nước mặn nhưng nóng, có lúc độ mặn lên cao hơn mức tối ưu.

Một điểm cần chú ý là ao lót bạt nằm gần rừng ngập mặn và vuông quảng canh của các hộ khác. Nếu không xử lý tốt, nước thải từ ao mật độ cao chứa nhiều chất hữu cơ, dinh dưỡng và có thể cả mầm bệnh sẽ đổ ra rạch chung, ảnh hưởng tới hàng xóm và tới rừng. Đây là chuyện kỹ thuật, cũng là chuyện quan hệ láng giềng và trách nhiệm theo pháp luật môi trường.

Bùn thải và nước thải: chỗ hay bị bỏ qua nhất

Mỗi ngày, ao nuôi mật độ cao tích lại thức ăn thừa, phân tôm, xác tảo ở hố giữa ao. Người nuôi xi phông, tức là hút lớp chất thải này ra ngoài, nhiều lần trong ngày ở giai đoạn tôm lớn. Cuối vụ, ao được rửa sạch, bùn và nước rửa ao lại là một khối lượng chất thải đáng kể. Câu hỏi là đưa chúng đi đâu.

Ở nhiều vùng nuôi, cách làm phổ biến nhưng không đúng là xả thẳng ra rạch hoặc đổ bùn ra bờ rừng. Cách làm đúng hơn là có ao chứa thải, để lắng, xử lý sinh học trước khi xả, bùn thải được gom, phơi, ủ hoặc đưa đi xử lý theo hướng dẫn. Một số mô hình tận dụng ao chứa thải để nuôi cá, sò huyết hoặc trồng rong biển hấp thụ bớt dinh dưỡng, gọi là nuôi tuần hoàn hoặc nuôi kết hợp.

Với một khu ao nằm trong vùng đệm của khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ như ở An Thới Đông, chuyện chất thải càng cần nghiêm túc. Người định đầu tư nên tìm hiểu quy định về bảo vệ môi trường đối với cơ sở nuôi trồng thuỷ sản ở cơ quan chuyên môn, và tính chi phí xử lý thải vào giá thành ngay từ đầu, chứ không coi là phần làm sau.

So với vuông quảng canh: đổi gì lấy gì

Ao lót bạt và vuông quảng canh không phải hai mức của cùng một nghề, mà gần như hai nghề khác nhau. Bảng dưới so sánh ở mức định tính.

Mặt so sánhVuông quảng canhAo lót bạt mật độ cao
Vốn đầu tư ban đầuThấpCao: bạt, quạt, điện, máy phát, ao chứa
Chi phí mỗi vụThấp, chủ yếu giống và côngCao: thức ăn, điện, xử lý nước, men vi sinh, nhân công
Năng suất trên diện tíchThấpCao hơn nhiều
Phụ thuộc điệnGần như khôngHoàn toàn
Tốc độ thiệt hại khi có sự cốChậm, thường còn thu được một phầnRất nhanh, có thể mất trắng trong một hai ngày
Kỹ năng cần cóKinh nghiệm nước, bờ, cốngKỹ thuật nuôi chuyên sâu, đọc chỉ số nước, quản lý bệnh
Tác động môi trườngThấpCao nếu không xử lý thải tốt

Đọc bảng sẽ thấy ao lót bạt hợp với người có vốn, có kỹ thuật, có đất gần điện và chịu được rủi ro; vuông quảng canh hợp với hộ ít vốn, muốn giữ lối làm gắn với rừng và con nước. Nhiều hộ trong vùng chọn cả hai: một vài ao nhỏ lót bạt bên cạnh vuông quảng canh truyền thống.

Kỷ luật an toàn sinh học: những thói quen giữ ao

Ở mật độ cao, một mầm bệnh lọt vào ao lan rất nhanh. Các khu nuôi làm tốt thường giữ những thói quen sau, theo hướng dẫn chung của ngành thuỷ sản.

  • Chỉ dùng tôm giống có nguồn gốc, đã kiểm dịch; ghi lại lô giống, ngày thả cho từng ao.
  • Rào lưới quanh khu ao để hạn chế chim, cua còng và động vật khác mang mầm bệnh từ ao này sang ao khác.
  • Mỗi ao có dụng cụ riêng như vợt, sàng ăn, xô; rửa và khử trùng dụng cụ khi dùng chung.
  • Hạn chế người lạ ra vào khu ao; người làm rửa tay chân, thay ủng khi đi từ khu này sang khu khác.
  • Theo dõi và ghi chỉ số nước, lượng ăn, biểu hiện tôm mỗi ngày để phát hiện bất thường sớm.
  • Khi có tôm chết bất thường, không xả nước ra ngoài khi chưa xử lý, báo cơ quan chuyên môn để được hướng dẫn.

Những thói quen này tốn công và có vẻ phiền, nhưng chi phí của chúng nhỏ hơn nhiều so với một ao tôm mất trắng. Các bệnh thường được nhắc tới ở tôm nuôi vùng nước lợ như đốm trắng, hoại tử gan tuỵ cấp, bệnh phân trắng hay vi bào tử trùng đều có thể lây qua nước, giống và dụng cụ.

Trước khi xuống tiền: bài toán của một khu ao nhỏ trong xã

Không ít người ở nơi khác về An Thới Đông thuê đất làm ao lót bạt sau khi nghe về các mô hình nuôi tôm công nghệ cao. Trước khi xuống tiền, nên ngồi tính trọn một vòng: tiền thuê hoặc chuyển nhượng đất, chi phí cải tạo và lót bạt, kéo điện, mua quạt và máy phát, làm ao chứa, ao thải, chòi canh, rồi tới chi phí mỗi vụ gồm giống, thức ăn, điện, nhiên liệu, chế phẩm xử lý nước, nhân công. Mỗi khoản này nên được hỏi giá từ hai ba nơi, không lấy một con số nghe kể.

Ví dụ giả định để thấy độ nhạy: nếu chi phí một vụ là một trăm phần, thì chỉ cần tỷ lệ sống giảm từ mức kỳ vọng xuống còn một nửa, hoặc giá bán giảm mạnh đúng lúc thu, lợi nhuận có thể biến mất. Một vụ hỏng giữa chừng còn tệ hơn, vì phần lớn tiền thức ăn đã đổ xuống ao. Người làm lâu năm thường chuẩn bị đủ vốn cho ít nhất hai vụ, để một vụ hỏng không đánh gục cả cơ sở.

Cũng nên tính chuyện người. Ao lót bạt không chờ ai: ngày lễ, ngày mưa bão, đêm mất điện, ao vẫn cần người. Chủ ao ở nội thành, chỉ thuê người trông, thường khó kiểm soát chất lượng chăm sóc. Mô hình chạy tốt nhất thường là khi chủ ao sống ngay cạnh ao hoặc có người thân tin cậy túc trực.

Câu hỏi thường gặp

Ao lót bạt có cần xin phép gì không?

Tuỳ quy mô và loại đất, cơ sở nuôi trồng thuỷ sản có thể phải đáp ứng các yêu cầu về sử dụng đất đúng mục đích, đăng ký cơ sở nuôi, và các thủ tục về bảo vệ môi trường theo quy định hiện hành. Người định đầu tư nên hỏi bộ phận tiếp nhận hồ sơ ở UBND xã và cơ quan chuyên môn về thuỷ sản của thành phố trước khi xây dựng.

Tôm thẻ hay tôm sú hợp với ao lót bạt hơn?

Ao lót bạt mật độ cao phổ biến với tôm thẻ chân trắng vì loài này lớn nhanh, chịu được mật độ cao và dải độ mặn rộng. Tôm sú vẫn được nuôi ở một số mô hình, thường mật độ thấp hơn. Lựa chọn còn tuỳ kỹ thuật, nguồn giống và thị trường mà người nuôi tiếp cận được.

Mất điện ban đêm thì xử lý thế nào?

Cách duy nhất chắc chắn là có máy phát điện dự phòng đủ công suất, có nhiên liệu sẵn và được chạy thử thường xuyên. Khi mất điện, cần khởi động máy phát ngay, ưu tiên các ao tôm lớn, mật độ cao. Ngưng cho ăn trong lúc thiếu ô xy để tránh làm nước xấu thêm.

Bùn thải ao tôm có dùng làm phân bón được không?

Bùn thải chứa nhiều chất hữu cơ nhưng cũng mặn và có thể chứa mầm bệnh, dư lượng hoá chất. Ở một số nơi, bùn được phơi, ủ với vật liệu khác trước khi dùng cho cây trồng chịu mặn. Không nên đổ bùn tươi ra bờ rừng hay vườn; nên hỏi cán bộ kỹ thuật về cách xử lý phù hợp.

Ao lót bạt gần rừng phòng hộ có ảnh hưởng tới rừng không?

Nếu nước thải và bùn thải không được xử lý mà xả ra rạch, chất hữu cơ và dinh dưỡng dư có thể làm suy giảm chất lượng nước, ảnh hưởng tới sinh vật trong rạch và cây rừng gần bờ. Xử lý thải đúng quy trình và không lấn đất rừng là điều kiện để mô hình này tồn tại lâu dài trong vùng đệm.

Có nên thuê kỹ thuật viên cho ao lót bạt không?

Với người chưa có kinh nghiệm nuôi mật độ cao, có người hiểu kỹ thuật hỗ trợ trong mấy vụ đầu thường giúp giảm rủi ro đáng kể. Một số hộ học qua các lớp tập huấn, đi xem các mô hình đã chạy ổn, hoặc liên kết với cơ sở cung cấp giống, thức ăn có hỗ trợ kỹ thuật. Dù chọn cách nào, chủ ao vẫn nên tự hiểu các chỉ số cơ bản.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.