Chuyển ruộng muối sang vuông tôm ở An Thới Đông không chỉ là chuyện đào sâu ô ruộng và thả giống: đó là quyết định đụng tới mục đích sử dụng đất, vốn đầu tư, kỹ năng nuôi và mức chịu rủi ro của cả gia đình. Có ba hướng thường gặp: giữ muối mùa khô và nuôi tôm mùa mưa trên cùng ô; chuyển một phần ruộng thành ao nuôi quanh năm; hoặc chuyển hẳn. Mỗi hướng đòi một cách tính khác.
Bài này đi qua từng mặt cần cân nhắc trước khi chuyển, dưới góc một hộ diêm dân ở vùng Lý Nhơn cũ đang phân vân. Không có lời khuyên nên hay không nên, vì câu trả lời phụ thuộc vào đất, vốn và người trong nhà. Mọi chi phí, sản lượng nêu ra nếu có chỉ là ví dụ giả định để minh hoạ cách tính, không phải số thực tế.
Vì sao câu hỏi chuyển đổi cứ quay lại mỗi năm
Ở vùng Lý Nhơn cũ, câu hỏi có nên bỏ muối để nuôi tôm không phải mới. Nó quay lại sau mỗi vụ muối được mùa mất giá hay mất mùa vì mưa, và sau mỗi lần nghe tin hàng xóm trúng một vụ tôm. Cái làm câu hỏi này khó là hai nghề có hồ sơ rủi ro rất khác nhau: muối ít rủi ro mất trắng nhưng thu nhập thấp và vất vả; tôm có thể cho thu nhập cao hơn nhiều trong năm tốt nhưng một đợt dịch bệnh có thể xoá sạch vốn.
Thêm vào đó là chuyện người. Nghề muối cần nhiều công lao động trong mùa khô, mà người trẻ trong nhà ngày càng đi làm xa. Nuôi tôm cần ít người hơn nếu làm quảng canh, nhưng nuôi bài bản lại cần người túc trực, có kiến thức về nước, thức ăn, bệnh. Một hộ chỉ còn hai vợ chồng lớn tuổi sẽ tính khác hẳn một hộ có con trai vừa học xong nghề thuỷ sản.
Vì thế, thay vì hỏi nghề nào lời hơn, câu hỏi hữu ích hơn là: với khoảnh đất này, số vốn này và những người này, mình chịu được kịch bản xấu nhất của nghề nào. Các mục dưới đây giúp trả lời câu hỏi đó từng phần.
Mặt thứ nhất: đất đang được phép dùng vào việc gì
Xem loại đất trên giấy tờ. Đất làm muối, đất nuôi trồng thuỷ sản và đất rừng phòng hộ là những loại đất khác nhau theo pháp luật đất đai. Việc đổi từ làm muối sang nuôi trồng thuỷ sản có thể là chuyển mục đích sử dụng trong nhóm đất nông nghiệp, và theo quy định hiện hành có thể phải đăng ký hoặc xin phép tuỳ trường hợp. Trước khi đào ao, nên mang giấy tờ đất hỏi bộ phận tiếp nhận hồ sơ của UBND xã An Thới Đông.
Xem quy hoạch vùng. Một số khu vực có thể nằm trong quy hoạch giữ vùng sản xuất muối, vùng đệm rừng phòng hộ hoặc các dự án khác của thành phố. Đất nằm trong quy hoạch nào sẽ ảnh hưởng tới việc có được chuyển đổi và đầu tư công trình lâu dài hay không. Thông tin quy hoạch nên hỏi cơ quan có thẩm quyền, không nên dựa vào lời kể.
Đất thuê, đất khoán. Nếu ruộng muối là đất thuê của người khác hoặc đất được giao khoán, việc chuyển sang nuôi tôm cần sự đồng ý của bên cho thuê, bên giao khoán, và nên ghi rõ trong hợp đồng ai chịu chi phí cải tạo, ai được hưởng công trình khi hết hạn.
Nước thải và vùng xung quanh. Nuôi tôm, nhất là nuôi mật độ cao, phát sinh nước thải và bùn đáy. Ao nuôi gần ruộng muối của nhà khác, gần rạch chung hay gần rừng cần tính chuyện xả thải để không ảnh hưởng hàng xóm và không vi phạm quy định bảo vệ môi trường.
Ba hướng chuyển đổi và cái giá của từng hướng
Ba hướng dưới đây là những gì thường thấy ở các vùng muối ven biển phía Nam. Bảng so sánh ở mức định tính để thấy sự khác nhau, không phải số liệu đo đạc.
| Tiêu chí | Muối mùa khô, tôm mùa mưa | Một phần ruộng thành ao nuôi quanh năm | Chuyển hẳn sang nuôi tôm |
|---|---|---|---|
| Vốn cải tạo ban đầu | Thấp: đắp bờ, sửa cống | Trung bình: đào sâu, làm bờ chắc, có thể lót bạt | Cao: cải tạo toàn bộ, điện, máy móc |
| Kỹ năng cần có | Cả muối lẫn tôm quảng canh | Thêm kỹ thuật nuôi bán thâm canh | Kỹ thuật nuôi chuyên sâu, quản lý nước, bệnh |
| Rủi ro mất trắng | Thấp – trung bình | Trung bình | Cao nếu gặp dịch bệnh, thời tiết xấu |
| Công lao động mùa khô | Nhiều (vẫn làm muối) | Vừa | Ít hơn, nhưng cần túc trực |
| Ảnh hưởng tới nền ruộng muối | Ít, nhưng nền phải rửa mặn, làm lại hằng năm | Phần ao khó quay lại làm muối | Khó quay lại làm muối |
Điểm hay bị bỏ qua là khả năng quay lại: ruộng muối đã đào sâu thành ao, nền bị xáo trộn, rất khó và tốn kém để làm muối lại nếu nuôi tôm không như ý. Vì thế nhiều hộ chọn đi từng bước, thử một phần trước.
Mặt thứ hai: cải tạo nền ruộng muối thành ao nuôi
Ô ruộng muối được thiết kế để nước nông, bay hơi nhanh, mặt nền chặt và phẳng. Ao nuôi tôm cần ngược lại: nước đủ sâu để ổn định nhiệt độ và độ mặn, bờ cao chắc chống tràn, có mương hoặc khu vực gom chất thải, có cống cấp và cống thoát riêng. Vì thế, cải tạo thường gồm đào sâu ô, đắp bờ cao hơn, gia cố bờ chống rò và làm lại hệ thống cống.
Nền ruộng muối nhiễm mặn rất nặng sau nhiều năm phơi nước đậm. Trước khi thả giống, nền ao cần được rửa mặn bằng cách lấy nước vào rồi tháo ra nhiều lần, đồng thời kiểm tra độ pH đất, vì đất vùng ven rừng ngập mặn có thể có tầng phèn tiềm tàng; khi đào sâu chạm tầng này và để lộ ra không khí, phèn có thể bị ô xi hoá, làm nước ao chua. Người làm nên hỏi cán bộ khuyến ngư hoặc người có kinh nghiệm trong vùng về cách nhận biết và xử lý.
Một số hộ chọn lót bạt cho ao để tránh vấn đề nền đất, dễ vệ sinh giữa các vụ. Cách này tốn vốn hơn, cần điện để chạy máy quạt nước và thường đi kèm kiểu nuôi mật độ cao hơn, tức là chuyển hẳn sang một nghề khác về tính chất. Kiểu nuôi này được bàn riêng ở một bài khác trong mục này.
Mặt thứ ba: vốn và dòng tiền của gia đình
Nghề muối cho tiền rải rác suốt mùa khô, mỗi lần bán muối là một khoản. Nuôi tôm thì khác: phần lớn tiền chi ra ở đầu vụ và trong vụ, cho cải tạo, con giống, thức ăn, men vi sinh, điện, công chăm sóc; tiền thu về dồn vào lúc thu hoạch. Nếu vụ tôm thất bại giữa chừng, khoản chi đã bỏ ra gần như không thu lại được.
Vì vậy, trước khi chuyển, hộ nên tự lập một bảng dự trù đơn giản cho một vụ, với ba kịch bản: vụ tốt, vụ trung bình và vụ hỏng giữa chừng. Ví dụ giả định: nếu tổng chi cho một vụ là một trăm phần, vụ tốt thu về hai trăm phần, vụ trung bình thu về một trăm hai mươi phần, còn vụ hỏng ở tháng thứ hai chỉ thu về hai mươi phần. Câu hỏi đặt ra không phải trung bình lời bao nhiêu, mà là gia đình có chịu nổi kịch bản thứ ba, có còn tiền ăn và tiền vụ sau không.
Cũng cần tính đến khoản nợ. Vay để cải tạo ao và nuôi vụ đầu là chuyện nhiều hộ làm, nhưng vụ đầu tiên của người mới nuôi thường là vụ rủi ro nhất. Nhiều người có kinh nghiệm khuyên dùng vốn tự có cho vụ đầu, hoặc chỉ chuyển một phần nhỏ ruộng, để thất bại nếu có cũng không kéo theo nợ nần kéo dài.
Mặt thứ tư: những câu nên tự hỏi trước khi quyết định
Danh sách dưới đây không có đáp án đúng sai; nó giúp cả nhà ngồi lại nói rõ với nhau trước khi bỏ tiền.
- Ai trong nhà sẽ chịu trách nhiệm chính cho ao tôm, và người đó đã nuôi tôm ít nhất một vụ, hoặc làm cùng người có kinh nghiệm chưa?
- Nếu vụ đầu thất bại, nhà mình còn đủ tiền sinh hoạt và tiền làm lại không, hay phải bán tài sản?
- Khoảnh đất định chuyển có lấy nước và thoát nước độc lập được không, hay dùng chung rạch với nhiều vuông khác, dễ lây bệnh?
- Có điện lưới tới bờ ao chưa, nếu định nuôi kiểu cần máy quạt nước?
- Mình sẽ bán tôm cho ai, thương lái trong xã hay đưa đi chợ đầu mối, và có biết giá được tính theo cỡ tôm thế nào không?
- Nếu sau vài vụ thấy không hợp, mình chấp nhận ruộng muối cũ không quay lại được nữa chứ?
Trả lời thành thật sáu câu này thường giúp nhiều hộ chọn được hướng đi vừa sức: có nhà quyết định giữ muối, chỉ nuôi tôm quảng canh mùa mưa; có nhà quyết định thử một ao nhỏ; có nhà mạnh dạn chuyển hẳn vì đã có người con học nghề quay về.
Giữ nghề muối song song: không chỉ là chuyện hoài niệm
Ở nhiều vùng muối phía Nam, những năm sau đợt chuyển đổi ồ ạt sang nuôi tôm, một số hộ đã quay lại làm muối sau nhiều vụ tôm thua lỗ, nhưng không phải ai cũng quay lại được vì ruộng đã bị đào phá. Bài học đó khiến lối luân phiên muối mùa khô, tôm mùa mưa được nhiều người xem là cách giữ được cả hai: đất vẫn làm muối được, tôm mùa mưa là phần thu thêm.
Lối luân phiên cũng có cái lợi về kỹ thuật. Mùa muối với nắng gắt và nước rất mặn giúp phơi khô, làm sạch nền ruộng, cắt bớt mầm bệnh tồn trong đất; vụ tôm mùa mưa sau đó bắt đầu trên một nền tương đối sạch. Ngược lại, chất hữu cơ tích lại sau vụ tôm phải được dọn kỹ trước khi làm muối, kẻo muối bị bẩn.
Dĩ nhiên, giữ cả hai nghề nghĩa là cả năm không có lúc nghỉ, và cần biết cả hai kỹ thuật. Với những hộ có lao động, đây vẫn là lựa chọn ít rủi ro. Với hộ thiếu người, việc chuyển hẳn hoặc cho thuê lại ruộng có thể hợp lý hơn. Điều đáng tránh nhất là quyết định vội sau một năm muối mất giá, khi chưa tính đủ các mặt ở trên.
Một vài vụ đầu: đo, ghi và học từ chính khoảnh đất của mình
Dù chọn hướng nào, vài vụ đầu sau khi chuyển đổi nên xem là giai đoạn học. Mỗi khoảnh đất ở An Thới Đông có cái riêng: ô gần sông lấy nước dễ nhưng mặn biến động mạnh theo mùa; ô sâu trong đồng nước ổn định hơn nhưng thay nước chậm; ô sát rừng nhiều lá rụng, nhiều cua còng đào bờ. Chỉ có ghi chép đều đặn mới cho thấy khoảnh đất của mình phản ứng thế nào qua các tháng.
Những thứ nên ghi gồm: ngày lấy nước, độ mặn, màu nước, ngày thả giống, lượng giống, các đợt mưa lớn, ngày tôm có dấu hiệu bất thường, ngày thu hoạch và lượng thu. Sau hai ba vụ, cuốn sổ này giúp nhận ra tháng nào hay hỏng, kiểu thả nào hợp, và quan trọng hơn là giúp quyết định có nên mở rộng hay quay về lối cũ dựa trên dữ kiện thật của nhà mình chứ không dựa vào chuyện kể.
Câu hỏi thường gặp
Chuyển ruộng muối sang nuôi tôm có phải xin phép không?
Tuỳ loại đất ghi trên giấy tờ và quy định pháp luật đất đai hiện hành, việc chuyển từ đất làm muối sang nuôi trồng thuỷ sản có thể phải đăng ký hoặc xin phép. Cách chắc nhất là mang giấy tờ đất tới bộ phận tiếp nhận hồ sơ của UBND xã để được hướng dẫn trước khi đào ao, tránh vi phạm và tranh chấp về sau.
Ruộng muối đã chuyển thành ao tôm có làm muối lại được không?
Về kỹ thuật có thể, nhưng rất tốn công và tiền: phải san lấp lại, làm phẳng, nện chặt nền và xây lại hệ thống ô bay hơi. Nền đã xáo trộn và tích chất hữu cơ cũng khó cho muối sạch ngay. Vì thế nhiều người khuyên chuyển từng phần để còn đường lùi.
Luân phiên muối – tôm có làm muối bị bẩn không?
Có nguy cơ nếu không dọn kỹ. Sau vụ tôm mùa mưa, đáy ô tích bùn, thức ăn thừa và chất thải; cần tháo cạn, nạo vét, phơi khô và rửa nền trước khi làm muối. Hộ làm tốt khâu này vẫn cho muối sạch; làm vội thì muối dễ sẫm màu và có mùi.
Vụ tôm đầu tiên có nên vay vốn không?
Vụ đầu của người mới nuôi thường rủi ro nhất vì chưa quen nước, chưa quen bệnh. Nhiều người có kinh nghiệm khuyên dùng vốn tự có hoặc chỉ thử trên một phần nhỏ đất để nếu thất bại cũng không mắc nợ dài. Quyết định vay là của từng gia đình, nên tính kỹ kịch bản xấu nhất trước.
Đất ven rừng phòng hộ có được đào ao nuôi tôm không?
Đất rừng phòng hộ có quy định sử dụng rất chặt theo pháp luật lâm nghiệp; việc đào ao, làm công trình trong đất rừng phòng hộ nhìn chung bị hạn chế. Hộ nhận khoán rừng cần đọc kỹ hợp đồng khoán và hỏi đơn vị quản lý rừng trước khi làm bất cứ thay đổi nào trên đất.
Có nơi nào tư vấn kỹ thuật khi chuyển đổi không?
Người dân có thể hỏi cơ quan khuyến nông, khuyến ngư thuộc ngành nông nghiệp và môi trường của thành phố, cán bộ phụ trách nông nghiệp của xã, hoặc các tổ hợp tác, hợp tác xã nuôi trồng thuỷ sản trong vùng. Học hỏi từ những hộ đã chuyển đổi trước trong chính xã cũng rất hữu ích vì cùng điều kiện đất, nước.