Ở xã An Thới Đông (từ 7/2025 gồm xã An Thới Đông cũ và xã Lý Nhơn cũ của huyện Cần Giờ), một năm làm ăn chia làm hai nửa rõ rệt: mùa khô từ khoảng tháng mười hai tới tháng tư, tháng năm là mùa của ruộng muối và của những vụ tôm ít rủi ro mưa; mùa mưa từ khoảng tháng năm tới tháng mười một là lúc ruộng muối nghỉ, ô ruộng thành vuông tôm, vuông cua, rau trên liếp xanh lại và nước sông ngọt bớt. Xuyên suốt cả năm là việc giữ rừng phòng hộ và nghề đánh bắt trên sông Soài Rạp, xếp theo giờ nước lớn, nước ròng chứ không theo lịch ngày.
Vì nghề nào cũng phụ thuộc trời và nước, hiếm hộ nào ở đây sống bằng một nghề. Bài này dựng lại lịch nghề của xã theo từng quãng thời gian trong năm, giải thích vì sao việc này nối tiếp việc kia, và cái giá của việc dồn hết vào một nghề. Mốc tháng trong bài là khoảng chung theo khí hậu Nam Bộ; năm nào mưa sớm, mưa muộn thì lịch dịch theo, và mỗi hộ lại có cách xếp riêng.
Hai mùa và một con nước: cái khung của mọi nghề
Khí hậu Cần Giờ là khí hậu cận xích đạo gió mùa của Nam Bộ, nhưng gần biển nên nhiều gió hơn và ít mưa hơn nội thành. Mùa khô kéo theo gió chướng thổi từ hướng đông bắc, trời trong, nắng dài ngày, nước sông Soài Rạp mặn lên vì nước ngọt từ thượng nguồn về ít. Mùa mưa đổi sang gió tây nam, mưa rào chiều, có những đợt mưa dầm vài ngày, nước sông nhạt đi rõ rệt, nhất là vào những tháng cuối mùa khi lũ thượng nguồn đổ về.
Bên trong khung mùa ấy là nhịp thuỷ triều. Vùng cửa sông Cần Giờ có chế độ bán nhật triều không đều: mỗi ngày thường có hai lần nước lên, hai lần nước xuống, cao thấp không bằng nhau. Mỗi tháng lại có hai đợt nước rong quanh ngày rằm và ngày mùng một âm lịch, nước lên cao, chảy mạnh; xen giữa là những ngày nước kém, mặt nước lững lờ. Người làm muối mở cống lấy nước khi triều lên, người nuôi tôm thay nước vuông theo con nước rong, người đặt đáy dỡ lưới theo nước ròng.
Vì thế, khi người An Thới Đông nói "mai nước lớn mấy giờ" là đang nói chuyện lịch làm việc, không phải chuyện thời tiết. Một ngày công ở đây có thể bắt đầu lúc ba giờ sáng hoặc kết thúc lúc nửa đêm tuỳ con nước, và mỗi ngày giờ nước lại lùi đi chừng một tiếng. Hiểu điều này là hiểu vì sao lịch nghề của xã không thể in sẵn ra giấy như lịch làm ca ở xưởng.
Lịch nghề theo quãng tháng
Bảng dưới là khung thường gặp ở các hộ trong xã, gom theo bốn quãng của năm. Không phải hộ nào cũng làm đủ các việc này; nhiều hộ chỉ làm hai ba việc phù hợp với đất và vốn của mình.
| Quãng thời gian | Ruộng muối | Vuông tôm, cua | Rừng, sông, vườn |
|---|---|---|---|
| Cuối mưa – đầu khô (khoảng tháng 11–12) | Tháo cạn ô, phơi nền, sửa bờ, nện mặt ruộng | Thu hoạch vụ tôm mùa mưa, cải tạo vuông | Gió chướng bắt đầu; tuần rừng dọn rác trôi sau mùa nước lớn |
| Giữa mùa khô (khoảng tháng 1–3) | Chính vụ: dẫn nước, cho bay hơi, cào muối liên tục | Vụ tôm khô: nước mặn ổn định, ít mưa pha loãng | Ba khía, cá kèo nhiều ở rạch; rau trên liếp cần tưới nước trữ |
| Cuối khô – chớm mưa (khoảng tháng 4–5) | Cào đợt cuối, gom muối vào kho hoặc bán gấp | Chuẩn bị chuyển ô muối sang vuông nuôi | Lo nước ngọt sinh hoạt; theo dõi trận mưa đầu mùa |
| Mùa mưa (khoảng tháng 6–10) | Ruộng nghỉ hoặc thành vuông tôm, cua | Vụ chính của nhiều vuông quảng canh; lo nước nhạt và tôm sốc | Trồng dặm cây rừng, rau trên liếp phát mạnh; triều cường cuối năm |
Đọc bảng theo hàng ngang sẽ thấy cùng một tháng, một hộ có thể phải chia người ra ba nơi: người lớn ở ruộng muối, con cái thăm vuông, người già trông vườn. Đó là lý do mùa khô là mùa bận nhất của các gia đình ở vùng Lý Nhơn cũ.
Mùa khô: tháng của muối và của những vuông tôm chắc tay
Từ khi gió chướng thổi đều, ruộng muối ở vùng Lý Nhơn cũ bắt đầu vào vụ. Khoảng thời gian từ tháng một tới tháng ba thường là chính vụ, nắng liên tục cho phép cào muối đều đặn. Đây cũng là quãng mà diêm dân ít nghỉ nhất: sáng sớm cào muối khi nắng chưa gắt, trưa gánh muối lên bờ, chiều châm nước cho ô kết tinh, tối canh trời xem có mưa trái mùa không để che đống muối.
Với người nuôi tôm, mùa khô có ưu điểm là độ mặn ổn định, ít bị mưa lớn làm tụt mặn đột ngột. Nhưng nắng gắt làm nước vuông nóng lên vào buổi trưa, chênh nhiệt ngày đêm lớn, và độ mặn có lúc tăng cao hơn mức tôm ưa. Hộ nuôi phải giữ mực nước đủ sâu, thay nước theo con nước rong để hạ nhiệt và hạ mặn. Vuông quảng canh lúc này chủ yếu dựa vào tôm cá tự nhiên theo nước vào cùng một ít giống thả bổ sung.
Mùa khô cũng là mùa nước ngọt sinh hoạt căng nhất. Lu khạp trữ nước mưa đã cạn, nước giếng nhiễm mặn, nhiều nhà phải mua nước hoặc chờ nước máy. Chuyện nước ngọt được viết kỹ ở mục đời sống của trang; trong bài này chỉ cần biết rằng thời gian lo nước cũng là thời gian bớt đi của việc đồng áng.
Mùa mưa: ruộng muối thành vuông, rau lên liếp, sông nhạt nước
Khi những trận mưa đầu mùa tới, thường vào khoảng tháng năm, vụ muối kết thúc. Muối còn đọng trên ô bị mưa hoà tan, nên trước mùa mưa diêm dân cố cào đợt cuối và gom muối vào kho hoặc bán gấp cho thương lái. Sau đó, nhiều hộ đắp lại cống, lấy nước vào các ô vốn là ruộng muối để nuôi tôm, cua trong mùa mưa. Cách dùng một khoảnh đất cho hai việc luân phiên như vậy tận dụng được đất, nhưng đòi hỏi biết cả hai nghề.
Mưa làm nước sông nhạt dần, nhất là những tháng cuối mùa khi nước thượng nguồn đổ về qua sông Soài Rạp. Với vuông tôm, đây là quãng nguy hiểm: mưa lớn kéo dài làm độ mặn và độ pH trong vuông tụt nhanh, tôm dễ sốc, yếu, dễ nhiễm bệnh. Người nuôi phải canh mưa, tháo bớt lớp nước mặt nhạt sau trận mưa lớn, và nhiều hộ thu hoạch sớm khi thấy trời chuyển xấu.
Ngược lại, mùa mưa là mùa của rau và cây trên bờ. Những liếp rau muống, rau dền, bầu bí cạnh nhà, những bụi chuối, cây ổi, cây dừa trên bờ vuông được nước mưa tưới tự nhiên. Đây cũng là mùa trồng dặm cây rừng ở những chỗ cây chết, vì đất ẩm, nước nhạt bớt giúp cây con dễ bén rễ. Cuối mùa mưa, khoảng tháng mười, tháng mười một, triều cường lên cao có thể tràn qua đường, qua bờ vuông thấp; đó là lúc các hộ đắp bờ, kê nền, thu hoạch tôm trước con nước lớn.
Những việc chạy suốt năm
Giữ rừng phòng hộ. Hộ nhận khoán bảo vệ rừng đi tuần quanh năm, không theo mùa vụ. Việc chính là giữ ranh, ngăn chặt phá cây, phát hiện người vào rừng khai thác trái phép, dọn rác trôi theo con nước và báo khi thấy cây chết, sạt lở. Tiền công khoán không lớn nhưng đều, nên nhiều gia đình xem đây là phần thu nhập nền để bù cho những vụ muối, vụ tôm thất bát.
Đánh bắt trên sông và rạch. Ghe nhỏ đặt đáy, giăng lưới trên sông Soài Rạp và các nhánh sông, rạch trong xã; người không có ghe thì đặt lú, câu, bắt ba khía, cá kèo ở bãi bùn khi nước ròng. Sản lượng lên xuống theo mùa và theo năm, nhưng nghề này cho tiền chợ hằng ngày, không phải đợi tới cuối vụ.
Làm thuê theo mùa. Khi hộ khác vào vụ thu hoạch tôm, cào muối, đắp bờ, người trong xã đi làm thuê theo ngày. Nhịp mùa vụ khác nhau giữa các hộ giúp lao động trong xã xoay vòng được, đồng thời là nguồn thu cho những gia đình ít đất.
Đi làm ngoài xã. Một phần người trẻ đi làm ở nội thành, ở khu công nghiệp phía Nhà Bè, Hiệp Phước hoặc các tỉnh lân cận, cuối tuần mới về. Đồng lương ổn định từ bên ngoài ngày càng là chỗ dựa của nhiều gia đình trước những năm trời thất thường.
Vì sao một hộ hiếm khi sống bằng một nghề
Nhìn qua lịch nghề, dễ thấy mỗi nghề ở An Thới Đông đều có một mùa rủi ro riêng. Muối sợ mưa trái mùa giữa khô; tôm sợ mưa dầm, nắng gắt và dịch bệnh; cua sợ nước nhạt và bờ vuông rò rỉ; đánh bắt phụ thuộc nguồn lợi tự nhiên đang thưa dần. Khi gom các nghề lại, rủi ro của nghề này rơi vào lúc nghề kia đang ổn, nên thu nhập cả năm của gia đình bớt chênh vênh hơn.
Đa nghề cũng giúp dùng hết sức lao động của gia đình. Người lớn tuổi không đi tuần rừng xa được thì trông vườn, cho tôm ăn; người trẻ khoẻ nhận việc nặng như đắp bờ, cào muối. Mùa nào việc ít thì đi làm thuê hoặc ra sông. Không có tháng nào trong năm mà cả nhà ngồi không, nhưng cũng hiếm có tháng nào làm ra một khoản lớn.
Mặt trái của đa nghề là khó làm giỏi hẳn một nghề. Muốn nuôi tôm thâm canh hiệu quả cần đầu tư lớn và theo dõi sát từng ngày, khó kết hợp với cào muối giữa trưa. Vì thế, mấy năm gần đây trong xã có hai xu hướng song song: một số hộ dồn đất, dồn vốn chuyên hẳn một nghề và chấp nhận rủi ro cao hơn; số khác giữ lối làm nhiều nghề nhỏ và thêm thu nhập từ người đi làm bên ngoài. Không có cách nào đúng cho mọi nhà; điều quan trọng là biết rõ mình đang đánh cược vào đâu.
Người mới về xã muốn làm nghề nên bắt đầu từ đâu
Người từ nơi khác về An Thới Đông ở, hoặc con em trong xã đi làm xa rồi muốn quay về làm nghề, thường hỏi nên bắt đầu thế nào. Không có công thức, nhưng có mấy việc nên làm trước khi bỏ vốn.
- Đi theo một hộ có kinh nghiệm trọn một năm, ít nhất qua một mùa khô và một mùa mưa, để thấy tận mắt những tháng khó nhất của nghề mình định làm.
- Tìm hiểu tình trạng pháp lý của khoảnh đất định thuê hoặc nhận chuyển nhượng: đất làm muối, đất nuôi trồng thuỷ sản hay đất rừng phòng hộ — mỗi loại có quy định sử dụng khác nhau, nên hỏi bộ phận tiếp nhận hồ sơ ở UBND xã.
- Ghi lại giờ nước, độ mặn, thời tiết hằng ngày ngay từ đầu; sau một hai năm, cuốn sổ đó là vốn quý hơn mọi lời khuyên.
- Bắt đầu nhỏ, giữ một nguồn thu ổn định khác trong vài vụ đầu, đừng dồn toàn bộ tiền vào một vuông tôm hay một ruộng muối.
- Hỏi cơ quan khuyến nông, khuyến ngư của thành phố và tổ hợp tác trong vùng về các lớp tập huấn, mô hình đang thử; tham gia tổ nhóm cũng giúp mua vật tư, bán sản phẩm đỡ thiệt hơn.
Phần lớn những người thất bại ở vụ đầu không phải vì thiếu chăm chỉ, mà vì chưa hiểu nhịp nước và nhịp mùa của chính khoảnh đất mình làm. Một năm quan sát thường rẻ hơn nhiều so với một vụ mất trắng.
Câu hỏi thường gặp
Mùa khô ở An Thới Đông bắt đầu và kết thúc khi nào?
Theo khí hậu chung của Nam Bộ, mùa khô ở vùng Cần Giờ thường kéo dài từ khoảng tháng mười hai tới tháng tư, có năm sang tháng năm. Năm nào mưa trái mùa nhiều hoặc mùa mưa tới sớm thì vụ muối ngắn lại. Người làm nghề nên theo dõi dự báo thời tiết của cơ quan khí tượng thay vì chỉ dựa vào tháng.
Vì sao ruộng muối lại nuôi tôm được vào mùa mưa?
Ô ruộng muối vốn là những khoảnh đất phẳng có bờ bao và cống lấy nước mặn, nên khi vụ muối kết thúc có thể đắp lại cống, nâng bờ và lấy nước vào để nuôi tôm, cua theo kiểu quảng canh. Cách luân phiên này tận dụng được đất, nhưng phải cải tạo nền và xử lý tốt trước khi thả giống.
Nghề nào trong xã cho thu nhập đều nhất?
Không có số liệu chính thức để so, nhưng về tính đều đặn, tiền công nhận khoán giữ rừng và tiền từ đánh bắt nhỏ hằng ngày thường đều hơn muối và tôm, vốn thu theo vụ và lên xuống mạnh. Đổi lại, các nghề đều đặn thường có mức thu không cao. Nhiều hộ ghép cả hai loại để cân bằng.
Có nên chọn chuyên một nghề thay vì làm nhiều nghề?
Tuỳ vốn, đất và khả năng chịu rủi ro của từng nhà. Chuyên một nghề giúp đầu tư bài bản và làm giỏi hơn, nhưng một vụ thất bát là ảnh hưởng tới cả năm. Làm nhiều nghề giảm rủi ro nhưng khó bứt lên. Người mới nên giữ ít nhất một nguồn thu ổn định trong mấy vụ đầu.
Người không có đất có thể kiếm sống bằng nghề gì ở xã?
Người không có đất thường làm thuê theo mùa cho các hộ muối, tôm vào lúc thu hoạch, đắp bờ; đánh bắt nhỏ ở sông rạch nếu có phương tiện và tuân thủ quy định khai thác; hoặc đi làm ở nội thành và khu công nghiệp lân cận. Một số người nhận khoán giữ rừng, tuỳ điều kiện và chính sách giao khoán từng thời kỳ.
Lịch con nước xem ở đâu cho đúng?
Người làm nghề thường xem bảng thuỷ triều do cơ quan khí tượng thuỷ văn công bố cho các trạm vùng Cần Giờ, kết hợp với lịch âm để biết ngày nước rong, nước kém. Giờ nước thực tế ở từng con rạch có thể lệch so với trạm, nên kinh nghiệm quan sát tại chỗ vẫn quan trọng.