Đồng muối Lý Nhơn là một trong hai vùng làm muối chính của Cần Giờ, cùng với xã đảo Thạnh An. Nghề muối ở đây dựa vào ba thứ trời cho: nước mặn từ sông Soài Rạp và các rạch thông ra cửa biển, nắng gắt và gió mạnh của mùa khô, cùng nền đất sét chặt giữ được nước. Muối được làm theo lối phơi nước trên ruộng, qua các ô chứa, ô bốc hơi rồi kết tinh, và trong những năm gần đây nhiều hộ chuyển sang trải bạt nhựa trên ô kết tinh để muối sạch hơn.
Đồng muối ra đời từ khi nào thì chưa có tư liệu ghi mốc chính xác. Điều chắc chắn là muối đã gắn với đời sống vùng Lý Nhơn qua nhiều thế hệ, đi qua chiến tranh, qua những năm giá muối xuống thấp và qua làn sóng chuyển đổi sang nuôi tôm. Bài viết kể lại hành trình ấy, phần nghề muối hôm nay vận hành ra sao sẽ có trong mục nghề nghiệp của trang.
Vì sao Lý Nhơn làm được muối
Không phải vùng ven biển nào cũng làm muối được. Ruộng muối cần nước có độ mặn đủ cao, mùa khô dài và ít mưa, gió đều để đẩy nhanh bốc hơi, và nền đất ít thấm để nước không rút mất xuống dưới. Vùng tây nam Cần Giờ, nơi Lý Nhơn toạ lạc, hội đủ những điều kiện này ở mức vừa phải: gần cửa sông nên nước mặn hơn vùng phía bắc, mùa khô nắng gắt, gió chướng thổi mạnh.
Tuy vậy, Lý Nhơn không phải vùng muối lý tưởng như những đồng muối lớn ở Nam Trung Bộ, nơi nắng nhiều và mưa ít hơn hẳn. Nước ở cửa sông Soài Rạp pha nước ngọt từ thượng nguồn, độ mặn thay đổi theo mùa và theo năm; mùa mưa đến là đồng muối phải nghỉ. Vì thế năng suất muối ở đây phụ thuộc mạnh vào thời tiết, năm nắng sớm, mưa trễ là năm được muối.
Đặc điểm này giải thích vì sao nghề muối Lý Nhơn luôn đi kèm nghề khác. Hiếm có gia đình chỉ sống bằng muối; phần lớn kết hợp với đánh bắt, nuôi tôm, giữ rừng hay làm thuê, để bù cho những tháng ruộng muối nghỉ.
Đồng muối trong ký ức xưa
Người lớn tuổi ở Lý Nhơn kể rằng nghề muối có từ thời ông bà, cha mẹ họ. Trong những năm chưa có đường bộ, muối được gánh ra bến, đổ xuống ghe chở đi bán, chủ yếu cho thương lái thu mua về các chợ, các cơ sở làm nước mắm, muối dưa, ướp cá. Giá muối lên xuống thất thường, có năm muối đầy đồng mà không ai mua, có năm mất mùa vì mưa sớm.
Ruộng muối thời đó hoàn toàn làm bằng tay. Bờ ruộng đắp bằng đất, mặt ô kết tinh được nện, lăn cho chặt và phẳng. Dụng cụ là cào gỗ, xẻng, đôi gánh, thúng. Muối kết tinh trên nền đất nên thường lẫn đất, có màu hơi xám, hạt to. Muốn muối trắng thì mặt ruộng phải được làm kỹ, nước phải lắng sạch, công sức bỏ ra nhiều hơn.
Người làm muối gọi là diêm dân. Công việc nặng nhọc nhất diễn ra vào giữa trưa nắng gắt, khi muối kết tinh nhanh nhất, và lúc chiều khi cào muối gom thành đống. Da sạm nắng, chân nứt vì nước mặn là dấu hiệu dễ nhận ra của người làm muối lâu năm.
Đồng muối đi qua những biến động
Lịch sử đồng muối Lý Nhơn không phẳng lặng. Có thể nhận ra một số giai đoạn lớn qua lời kể và tư liệu chung về Cần Giờ; mốc năm cụ thể của từng giai đoạn tại Lý Nhơn cần tra thêm.
- Thời chiến tranh: ruộng muối ven rừng bị ảnh hưởng bởi chiến sự, nhiều ô bị bỏ hoang khi người dân tản cư, bờ bao hư hỏng.
- Những năm sau 1975: người dân khôi phục ruộng muối, nghề muối là một trong những nguồn sống chính của vùng, được tổ chức lại theo các hình thức làm ăn tập thể của thời kỳ đó.
- Thời kỳ đổi mới: ruộng muối giao về hộ gia đình, mỗi nhà tự lo sản xuất và bán cho thương lái, giá cả theo thị trường.
- Làn sóng nuôi tôm: khi tôm cho thu nhập cao hơn, một phần ruộng muối chuyển sang vuông tôm hoặc luân phiên muối – tôm theo mùa.
- Muối trải bạt: những năm gần đây, nhiều hộ áp dụng cách trải bạt nhựa trên ô kết tinh, có sự hỗ trợ của chương trình nông nghiệp thành phố, để nâng chất lượng muối.
- Diện tích co hẹp: theo các bài viết về Cần Giờ, tổng diện tích làm muối giảm dần do giá muối thấp, công lao động nặng và người trẻ ít theo nghề.
Những giai đoạn này đan xen chứ không nối tiếp gọn gàng. Có gia đình đã bỏ muối từ lâu, có gia đình vẫn giữ ruộng muối qua mọi biến động như một phần truyền thống của nhà.
Muối ruộng đất và muối trải bạt khác nhau thế nào
Thay đổi lớn nhất về kỹ thuật của đồng muối Lý Nhơn trong mấy chục năm qua là chuyển từ kết tinh trên nền đất sang kết tinh trên bạt. Bảng sau so sánh ở mức nguyên lý.
| Tiêu chí | Muối kết tinh trên nền đất | Muối trải bạt |
|---|---|---|
| Mặt ô kết tinh | Đất được nện, lăn chặt | Phủ bạt nhựa chuyên dùng trên nền đã san phẳng |
| Độ sạch | Dễ lẫn đất, cát; màu hơi xám | Ít lẫn tạp chất, muối trắng hơn |
| Tốc độ kết tinh | Chậm hơn | Bạt hấp nhiệt nên thường nhanh hơn |
| Chi phí ban đầu | Thấp, chủ yếu là công | Cao hơn vì phải mua bạt và thay định kỳ |
| Công làm | Nhiều công nện, sửa nền | Giảm công làm nền, nhưng phải giữ bạt không rách |
| Đầu ra | Bán thương lái với giá muối thường | Có cơ hội bán giá tốt hơn nhờ chất lượng, tuỳ thị trường |
Muối trải bạt không phải lời giải cho mọi khó khăn. Chi phí bạt, thời tiết và giá thị trường vẫn quyết định nhà làm muối có lời hay không. Nhưng nó cho thấy nghề muối Lý Nhơn không đứng yên, người làm muối vẫn tìm cách thích nghi.
Muối và tôm: cuộc cạnh tranh trên cùng mặt đất
Ruộng muối và vuông tôm cần cùng một thứ: mặt đất bằng phẳng, nước mặn dẫn từ rạch vào. Khi thị trường tôm mở rộng, giá tôm có lúc cao gấp nhiều lần thu nhập từ muối trên cùng diện tích, nhiều hộ ở Lý Nhơn chọn chuyển đổi. Có nhà chuyển hẳn, có nhà làm luân canh: mùa khô làm muối, mùa mưa thả tôm.
Luân canh muối – tôm có lợi thế là tận dụng đất quanh năm, nhưng cũng có rủi ro: dư lượng từ ao tôm có thể ảnh hưởng chất lượng muối nếu không cải tạo kỹ, và dịch bệnh tôm có thể làm mất trắng một vụ. Mỗi gia đình cân nhắc theo vốn liếng, sức lao động và kinh nghiệm của mình.
Cuộc cạnh tranh này để lại dấu ấn trên cảnh quan: nhìn từ trên cao, vùng Lý Nhơn cũ là bức tranh xen kẽ những ô muối sáng màu và những vuông nước xanh nâu. Mỗi mùa, tỷ lệ giữa hai màu ấy lại thay đổi một chút, phản ánh lựa chọn làm ăn của từng nhà.
Muối Lý Nhơn trong đời sống và văn hoá vùng
Muối không chỉ là hàng hoá. Với người Lý Nhơn, mùa muối là nhịp của cả năm: Tết xong là chuẩn bị ruộng, giữa mùa khô là lúc bận rộn nhất, mưa đầu mùa là lúc vội vàng gom muối, che đống muối. Câu chuyện về những cơn mưa trái mùa làm tan cả đống muối là ký ức chung của nhiều nhà.
Muối cũng có mặt trong bữa ăn, trong cách làm mắm, làm khô của vùng sông nước. Nhiều gia đình giữ muối nhà làm để dùng quanh năm, làm quà cho người thân trên thành phố. Với khách tham quan, cảnh đồng muối lúc chiều, những đống muối trắng nối nhau trên ruộng là hình ảnh đặc trưng nhất của vùng Lý Nhơn cũ.
Khi tham quan ruộng muối, khách nên xin phép chủ ruộng trước khi bước xuống, đi trên bờ chứ không giẫm vào ô kết tinh, không làm rách bạt. Ruộng muối là nơi làm việc của người ta, một dấu chân sai chỗ có thể làm hỏng cả ô muối đang kết tinh.
Tương lai của đồng muối: giữ nghề hay giữ ký ức
Người làm muối ở Lý Nhơn đa phần đã lớn tuổi. Người trẻ đi học, đi làm trong thành phố hoặc chuyển sang nghề khác nhẹ nhàng, thu nhập ổn định hơn. Đây là xu hướng chung của nhiều vùng muối trong cả nước, không riêng gì Cần Giờ.
Có những hướng được bàn tới để giữ nghề: nâng chất lượng muối và xây dựng sản phẩm có tên tuổi riêng, kết hợp ruộng muối với du lịch trải nghiệm, tổ chức sản xuất theo tổ hợp tác để có giá bán tốt hơn. Những hướng này đều cần thời gian và vốn, kết quả còn tuỳ vào thị trường.
Dù tương lai thế nào, đồng muối Lý Nhơn đã là một phần lịch sử của xã An Thới Đông mới. Ghi lại cách làm muối truyền thống, giữ ảnh cũ, phỏng vấn những diêm dân lâu năm là việc nên làm sớm, trước khi những người hiểu nghề nhất không còn nữa.
Cách làm muối truyền thống trên ruộng đất của diêm dân xưa
Trước khi có bạt nhựa, quy trình làm muối ở Lý Nhơn theo lối truyền thống của các vùng muối phơi nước. Mô tả dưới đây ở mức nguyên lý, theo lời kể của người làm muối lâu năm và tư liệu chung về nghề muối Nam Bộ; chi tiết mỗi nhà một khác.
- Đầu mùa khô, sửa bờ bao, vét mương dẫn nước, nện và lăn lại mặt ô kết tinh cho phẳng, chặt, đỡ thấm.
- Canh con nước lớn để mở cống, dẫn nước mặn từ rạch vào ô chứa, cho nước lắng bớt phù sa.
- Chuyển nước dần qua các ô bốc hơi; dưới nắng và gió, nước đặc dần, độ mặn tăng qua từng ô.
- Khi nước đủ đặc, đưa vào ô kết tinh; sau một hoặc vài ngày nắng gắt, hạt muối bắt đầu đóng trên mặt ô.
- Cào muối gom thành từng đống nhỏ trên ô cho ráo nước, rồi gánh lên bờ hoặc vào kho, che đậy cẩn thận.
- Theo dõi trời: thấy mây mưa là cả nhà gấp rút gom muối, vì một trận mưa có thể làm tan công sức nhiều ngày.
Toàn bộ quy trình dựa vào kinh nghiệm đọc trời, đọc nước và cảm nhận độ mặn bằng mắt, bằng tay. Người làm muối giỏi biết lúc nào nước đã đủ đặc mà không cần dụng cụ đo, một thứ hiểu biết chỉ truyền được qua nhiều mùa đứng trên ruộng.
Câu hỏi thường gặp
Nghề muối ở Lý Nhơn có từ bao giờ?
Chưa có tư liệu ghi mốc năm chính xác cho riêng đồng muối Lý Nhơn. Người lớn tuổi trong vùng cho biết nghề đã có từ thời ông bà họ, tức ít nhất nhiều thế hệ trước. Muốn biết chính xác hơn cần tra tư liệu lưu trữ và các ấn phẩm lịch sử địa phương của Cần Giờ.
Mùa muối ở Lý Nhơn vào khoảng tháng nào?
Mùa muối trùng với mùa khô của vùng Nam Bộ, thường từ khoảng sau Tết đến trước khi mưa đầu mùa, có năm bắt đầu sớm hơn. Thời điểm cụ thể thay đổi theo thời tiết từng năm, nên khách muốn xem cảnh làm muối nên hỏi người địa phương trước khi đi.
Muối trải bạt có an toàn không?
Muối trải bạt được kết tinh trên bạt nhựa chuyên dùng, mục đích là giảm lẫn đất cát. Chất lượng và độ an toàn còn phụ thuộc loại bạt, cách làm và nguồn nước. Khi mua muối để ăn, nên chọn nguồn rõ ràng, sản phẩm có nhãn mác hoặc mua trực tiếp từ hộ làm muối uy tín.
Vì sao diện tích làm muối giảm?
Lý do chính là giá muối thấp so với công sức, thời tiết thất thường làm năng suất không ổn định, nghề nuôi tôm cho thu nhập cao hơn trên cùng diện tích, và người trẻ ít theo nghề. Đây là xu hướng chung của nhiều vùng muối ở Việt Nam, không riêng Lý Nhơn.
Khách có thể tới xem làm muối không?
Có thể, nhưng ruộng muối là đất sản xuất của hộ dân chứ không phải điểm tham quan có bán vé. Nên đi cùng người địa phương hoặc xin phép chủ ruộng, đi trên bờ, không bước vào ô kết tinh và không làm rách bạt. Giờ đẹp nhất thường là sáng sớm hoặc chiều muộn.
Muối Lý Nhơn có được bán dưới tên riêng không?
Có những nỗ lực xây dựng sản phẩm muối mang tên địa phương Cần Giờ, gắn với hợp tác xã, tổ hợp tác và chương trình hỗ trợ của thành phố. Tình trạng cụ thể của từng nhãn hiệu thay đổi theo thời gian, nên kiểm thông tin trên bao bì và nguồn chính thức khi mua.