Dừa nước (có nơi gọi dừa lá) là loài cọ không có thân đứng, mọc thành bụi dày dọc bờ rạch và bờ sông nước lợ ở xã An Thới Đông. Thân cây bò ngầm dưới bùn, lá to dài vươn thẳng từ gốc lên, buồng trái tròn nằm sát mặt nước. Ngày trước lá dừa nước lợp mái, làm vách nhà khắp vùng sông nước; trái non cho cơm trong ăn mát; bụi dừa nước giữ bờ rạch khỏi bị xói.
Hôm nay mái tôn đã thay mái lá ở phần lớn nhà trong xã, nhưng dừa nước vẫn là cây quen nhất của bờ rạch, và vẫn có người chặt lá, hái trái. Bài này giải thích cây dừa nước sống thế nào, vì sao nó mọc ở chỗ này mà không mọc ở chỗ khác, người trong xã dùng nó ra sao, và vì sao nên giữ những bụi dừa nước trước nhà thay vì phát quang cho sạch.
Cây dừa nước sống thế nào
Khác với cây dừa trồng trong vườn, dừa nước không có thân vươn cao. Thân của nó nằm ngang dưới mặt bùn, phân nhánh và bò dần ra, mỗi đầu nhánh mọc lên một chùm lá. Vì vậy một bụi dừa nước nhìn như nhiều cây riêng nhưng thật ra có thể là các nhánh của cùng một cây. Lá dạng lông chim, rất dài, mọc thẳng rồi cong nhẹ, có thể cao hơn đầu người nhiều lần.
Hoa dừa nước mọc trên một cuống dài từ gốc, hoa cái kết thành một buồng tròn to cỡ đầu người, gồm nhiều trái dẹt, cứng, xếp sát nhau. Trái già rụng xuống, nổi trên nước và trôi theo con nước tới chỗ khác, mắc lại ở bờ bùn rồi nảy mầm. Đó là cách dừa nước lan dọc các con rạch mà không ai trồng.
Một bụi dừa nước có thể sống rất lâu, vì thân ngầm cứ bò dần và mọc lá mới ở đầu nhánh trong khi phần cũ già đi. Lá già vàng úa rồi khô, rủ xuống quanh gốc; nếu không ai thu, chúng tạo thành lớp rơm rác dày ở chân bụi. Người ven rạch thu lá già vừa để dùng vừa để bụi sạch, thoáng hơn.
Dừa nước ưa đất bùn ngập triều và nước lợ nhạt, nơi nước ngọt từ sông pha với nước mặn. Ở vùng quá mặn gần biển, dừa nước thưa hơn và nhường chỗ cho mắm, đước; ở vùng nước ngọt hẳn, nó cũng không phát triển mạnh bằng. Bờ rạch và bờ sông Soài Rạp quanh khu dân cư An Thới Đông cũ có độ mặn vừa phải nên dừa nước mọc dày; càng về phía Lý Nhơn gần cửa sông, bạn sẽ thấy bụi dừa nước thưa dần ở những chỗ mặn nhiều.
Các phần của cây và cách người vùng sông nước dùng
Gần như phần nào của cây dừa nước cũng từng được dùng trong đời sống vùng sông nước Nam Bộ. Bảng dưới gom các cách dùng phổ biến; không phải cách nào cũng còn thấy nhiều ở xã hôm nay:
| Phần cây | Cách dùng | Hôm nay ở xã |
|---|---|---|
| Lá già | Chằm thành tấm lợp mái, làm vách nhà, che chuồng trại | Ít nhà lợp lá, còn dùng cho chòi, quán, chuồng |
| Lá non | Ngày trước dùng quấn, gói một số thứ trong nhà | Hiếm gặp |
| Cọng lá (sống lá) | Làm hàng rào, chẻ làm đồ đan, làm củi | Còn dùng làm hàng rào, cọc tạm |
| Trái non | Lấy phần cơm trong, mềm ăn mát, nấu chè | Có người hái ăn, bán ở chợ quê |
| Nhựa cuống buồng hoa | Ở một số vùng được lấy để nấu đường, làm mật | Ít thấy ở xã |
| Cả bụi cây | Giữ bờ rạch, che bóng cho bến xuồng | Vẫn được giữ ở nhiều đoạn rạch |
Nghề chằm lá dừa nước từng nuôi nhiều gia đình vùng sông nước. Khi mái tôn, mái ngói rẻ dần và bền hơn, nghề này thu hẹp ở hầu hết các vùng ven thành phố. Những tấm lá chằm còn thấy ở các quán ven sông, chòi canh vuông hay khu sinh thái, nơi người ta muốn giữ vẻ quê.
Trái dừa nước: hái, ăn và những điều nên biết
Trái dừa nước non có phần cơm bên trong trong và mềm, vị nhạt ngọt nhẹ, người vùng sông nước thường ăn trực tiếp cho mát hoặc nấu chè. Để lấy cơm, người ta tách từng trái khỏi buồng, chặt phần đầu bằng dao sắc rồi nạy lấy phần cơm. Trái già thì cơm cứng lại, không ăn được.
Hái dừa nước nghe đơn giản nhưng cần quen tay. Buồng nằm sát nước, giữa những bẹ lá có thể cứa tay, nền bùn trơn, và lúc nước lớn phải đi bằng xuồng. Dao dùng để tách trái phải sắc và cầm chắc. Người chưa quen nên để người địa phương làm hoặc chỉ cách.
Ở các vùng sông nước khác, cơm dừa nước được nấu chè với đậu, với nước cốt dừa hoặc ướp đá ăn giải nhiệt; ở An Thới Đông thì phổ biến nhất vẫn là ăn tươi ngay sau khi hái, hoặc mua vài buồng ở chợ quê đem về cho trẻ con. Đây không phải món đặc sản được quảng bá, mà là món của nhà nông vùng nước lợ, hợp nhất vào những trưa nắng mùa khô.
Bụi dừa nước ven rạch thường có chủ, là cây mọc trên đất hoặc bờ của một hộ nào đó, hoặc nằm trong khu rừng được quản lý. Khách đi chơi thấy buồng dừa nước đẹp không nên tự ý chặt; hỏi người dân gần đó, nhiều nhà sẵn lòng cho hoặc bán vài trái. Với trái mua ở chợ, chọn trái còn tươi, vỏ không thâm, ăn trong ngày vì cơm dừa nước để lâu nhanh mất vị.
Dừa nước trong ký ức nhà lá vùng sông nước
Người lớn tuổi ở An Thới Đông còn nhớ thời nhà lá: mái lợp lá dừa nước, vách cũng bằng lá hoặc phên tre, nền đất đắp cao. Lá được chặt về, phơi cho héo rồi chằm thành từng tấm bằng nẹp tre hoặc cọng lá, xếp chồng lên mái theo lớp. Mái lá mát vào mùa nắng, ít ồn khi mưa, nhưng phải thay sau vài năm và dễ cháy, nên nhà nào cũng phải tính chuyện lợp lại.
Chằm lá là việc của cả nhà, thường làm lúc nông nhàn. Những ngày ấy bờ rạch có tiếng dao chặt lá, sân nhà phơi lá vàng úa, trẻ con được giao việc bó lá. Lá dừa nước cũng là thứ trao đổi giữa các xóm: nhà có nhiều dừa nước bán lá cho nhà cần lợp. Khi tôn và ngói về tới vùng quê, những cảnh đó thưa dần rồi gần như mất.
Hôm nay mái lá trở lại theo cách khác: chòi canh vuông tôm, quán nước ven sông, khu sinh thái dùng mái lá vì mát và hợp cảnh. Với người trẻ trong xã, mái lá là cảnh của quán chứ không còn là nhà mình. Biết chuyện nhà lá cũng là biết vì sao dừa nước có mặt dày như vậy dọc bờ rạch: ngày trước, nó là vật liệu xây nhà mọc ngay trước cửa.
Vì sao bụi dừa nước giữ bờ tốt
Thân ngầm và rễ đan dày. Thân bò ngang dưới bùn cùng rễ chùm đan vào nhau tạo thành một tấm lưới giữ đất. Bờ rạch có dừa nước ít bị nước khoét chân hơn bờ trơ.
Lá giảm sóng. Khi xuồng máy, ghe chạy qua hay gió thổi trên rạch, những tàu lá dày làm yếu sóng trước khi sóng chạm bờ. Đây là lý do nhiều nhà giữ một hàng dừa nước ở mép rạch trước bến.
Giữ bùn, bồi bờ. Nước chảy chậm lại khi qua gốc dừa nước, bùn lắng ở đó. Theo thời gian bờ có dừa nước có thể bồi ra thêm, thay vì lùi vào.
Tự mọc lại. Chặt lá để dùng không làm chết cây, vì đầu thân dưới bùn vẫn mọc lá mới. Chỉ cần không phá gốc, bụi dừa nước tự phục hồi sau mỗi lần thu lá.
Giới hạn của nó. Dừa nước giữ được bờ rạch, bờ sông nhỏ, nhưng không chống nổi dòng chảy mạnh và sóng tàu lớn trên sông Soài Rạp ở đoạn xung yếu. Ở những chỗ ấy cần giải pháp khác, dừa nước chỉ là một phần.
Dừa nước và sinh vật sống quanh gốc
Dưới gốc dừa nước là một thế giới nhỏ. Bùn ẩm và bóng mát là chỗ ở của còng, ba khía, cua con; ốc bám trên bẹ lá sát mặt nước; cá bống, cá kèo trú trong các kẽ rễ khi nước ròng. Người đặt lọp, đặt lờ hay chọn chỗ cạnh bụi dừa nước vì biết cá tôm hay tụ ở đó.
Những bụi dừa nước dọc rạch cũng là chỗ chim nhỏ làm tổ, chỗ chim bói cá đậu rình mồi. Buổi tối ở một số đoạn rạch vùng sông nước, có thể thấy đom đóm lập loè trên những bụi cây ven bờ. Những cảnh ấy chỉ còn ở chỗ rạch chưa bị bê tông hoá hai bờ.
Vì vậy khi phát quang bờ rạch để làm kè, làm lối đi, nhiều thứ mất đi cùng với bụi dừa nước chứ không chỉ một loài cây. Không phải chỗ nào cũng giữ được, nhưng ở những đoạn rạch còn tự nhiên, giữ một dải dừa nước ở mép nước thường là cách làm có lợi cho cả người lẫn sinh vật.
Giữ và chăm bụi dừa nước trước nhà
Nhiều nhà ven rạch muốn giữ dừa nước nhưng lo nó lấn bến, che tầm nhìn, sinh muỗi. Mấy cách làm cân bằng mà người trong xã hay dùng:
- Giữ một dải dừa nước ở mép nước làm hàng rào giữ bờ, chỉ phát bớt những tàu lá già, khô hoặc lá vươn ra lối đi.
- Chừa một khoảng trống vừa đủ cho bến xuồng, bậc lên xuống; không phá gốc ở hai bên bến để bờ không bị khoét.
- Dọn lá khô, rác mắc trong bụi thường xuyên để không có chỗ đọng nước, giảm muỗi và giảm nguy cơ cháy lá khô mùa nắng.
- Khi chặt lá dùng, cắt sát bẹ nhưng không đào gốc; để lại lá non ở giữa chùm cho cây tiếp tục mọc.
- Nếu muốn trồng thêm ở đoạn bờ trơ, nhặt trái già đã nảy mầm ven bờ, cắm vào bùn ở mép nước lúc nước ròng, cố định bằng cọc tre cho tới khi bén rễ.
- Không phun thuốc diệt cỏ ở bờ rạch; hoá chất trôi xuống nước, ảnh hưởng ao nuôi và cá tôm trong rạch.
Bụi dừa nước nằm trên đất, bờ của ai thì người đó quyết định giữ hay phát, trong khuôn khổ quy định về hành lang bờ sông, bờ rạch. Ở những đoạn thuộc rừng phòng hộ, việc chặt phá cây phải theo quy định của đơn vị quản lý.
Câu hỏi thường gặp
Dừa nước có phải cây dừa thường không?
Không. Dừa nước là một loài cọ khác hẳn cây dừa trồng trong vườn. Dừa nước không có thân đứng, thân bò dưới bùn, lá mọc thẳng từ gốc, sống ở bờ sông rạch nước lợ ngập triều. Trái dừa nước là một buồng tròn gồm nhiều trái nhỏ, không có nước dừa như trái dừa thường.
Cơm dừa nước ăn có tốt không?
Cơm dừa nước non được người vùng sông nước ăn từ lâu như một món ăn mát, vị nhạt ngọt nhẹ. Nên ăn trái tươi, sạch, sơ chế bằng dụng cụ sạch và ăn ngay. Người có vấn đề tiêu hoá hoặc đang theo chế độ ăn đặc biệt nên ăn vừa phải và hỏi ý kiến người có chuyên môn.
Vì sao dừa nước ở phía Lý Nhơn thưa hơn?
Dừa nước ưa nước lợ nhạt. Vùng Lý Nhơn gần cửa sông Soài Rạp, nước mặn hơn và mặn lâu hơn trong năm, nên dừa nước thưa hơn và nhường chỗ cho các loài chịu mặn tốt hơn như mắm, đước. Ở khu dân cư phía bắc xã, độ mặn vừa phải nên dừa nước mọc dày hơn.
Chặt lá dừa nước có làm chết cây không?
Không, nếu không phá gốc. Thân dừa nước nằm dưới bùn và tiếp tục mọc lá mới từ đầu thân. Khi chặt lá chỉ nên cắt những tàu già, chừa lại lá non ở giữa chùm. Bụi dừa nước sẽ phục hồi sau mỗi lần thu lá.
Bụi dừa nước có làm nhà nhiều muỗi không?
Bụi cây ven rạch có thể là chỗ muỗi trú, nhất là khi có lá khô, rác đọng nước bên trong. Dọn lá khô, rác thường xuyên và không để nước đọng quanh nhà giúp giảm muỗi đáng kể. Phá hết bụi dừa nước thường không giải quyết được muỗi mà lại làm bờ rạch dễ sạt.
Có thể trồng dừa nước để giữ bờ ao không?
Có thể ở bờ ao, bờ rạch có nước lợ và ngập triều. Dùng trái già đã nảy mầm, cắm vào bùn ở mép nước, cố định bằng cọc tới khi bén rễ. Dừa nước giữ tốt bờ nhỏ nhưng không thay được kè ở đoạn sông có dòng chảy mạnh. Nên hỏi người trồng lâu năm ở xã.