Phía sau bờ sông Soài Rạp, đất xã An Thới Đông được chia cắt bởi rất nhiều rạch tự nhiên, mương đào, cống và bờ bao. Rạch đưa nước triều từ sông vào sâu trong đất; mương và cống chia nước tới từng ô ruộng muối, từng ao vuông; bờ bao giữ nước lại hoặc ngăn nước tràn vào nhà, vào đường. Hệ thống này vừa tự nhiên vừa do con người làm qua nhiều đời, và gần như mọi nghề trong xã đều phụ thuộc vào nó.
Người ở nội thành thường chỉ để ý tới sông lớn và rừng. Nhưng với người An Thới Đông, chuyện của con rạch trước nhà, cái cống đầu xóm hay đoạn bờ bao sau vườn mới là chuyện hằng ngày. Bài này giải thích từng thành phần của mạng nước nhỏ ấy, cách nó vận hành theo con nước, những trục trặc thường gặp và vì sao việc giữ rạch thông là việc chung của cả xóm. Tên từng con rạch chỉ người địa phương gọi chính xác được, nên bài viết theo nguyên lý thay vì liệt kê tên.
Rạch tự nhiên: con đường nước có trước con người
Rạch là những dòng nước nhỏ uốn khúc, phân nhánh như rễ cây, nối từ sông lớn vào sâu trong đất và trong rừng. Ở vùng đất bồi như An Thới Đông, rạch hình thành cùng lúc với đất: khi bãi bùn cao dần, nước triều vẫn phải có đường vào ra, và chính những đường đó khoét sâu thành rạch. Vì thế rạch tự nhiên thường uốn lượn, chỗ rộng chỗ hẹp, miệng rạch phía sông rộng nhất và nhỏ dần vào trong.
Mỗi ngày hai lần, nước lớn theo rạch đi vào, nước ròng theo rạch rút ra. Dòng nước ấy mang phù sa và thức ăn vào cho rừng, cho bãi, và mang lá mục, chất thải ra sông. Trong rừng ngập mặn, rạch là thứ giữ cho cây sống: một khoảnh rừng mất đường nước có thể bị úng hoặc bị khô, cây chết dần mà không ai chặt.
Người xưa đến khai phá vùng này đi theo rạch. Nhà đầu tiên thường cất ở chỗ đất cao gần miệng rạch, vừa có nước, vừa có đường cho xuồng ra sông. Nhiều tên đất ở vùng Cần Giờ là tên rạch, và người trong xã vẫn hay chỉ đường bằng rạch: nhà bên kia rạch, xóm trong rạch, đầu rạch, cuối rạch. Người mới nên tập nghe cách chỉ đường này, vì nó chính xác hơn số nhà ở nhiều đoạn.
Các thành phần của mạng nước trong xã
Mạng nước nhỏ ở An Thới Đông gồm nhiều thứ khác nhau mà người ngoài dễ gộp chung là "kênh". Bảng dưới phân biệt từng loại theo cách người làm nghề hiểu:
| Thành phần | Do ai làm | Dùng để làm gì |
|---|---|---|
| Rạch tự nhiên | Tự hình thành cùng đất bồi | Đường nước triều vào ra, đường xuồng, nuôi rừng |
| Kênh, mương đào | Người dân hoặc công trình chung | Dẫn nước tới khu ruộng muối, khu ao nuôi, thoát nước mưa |
| Cống lớn đầu kênh | Công trình thuỷ lợi chung | Đóng mở ngăn triều cường, giữ hoặc xả nước cho cả khu |
| Cống nhỏ của ao, ruộng | Từng hộ tự làm | Lấy nước vào, xổ nước ra theo con nước |
| Bờ bao | Từng hộ và cộng đồng | Giữ nước trong ao, ngăn nước tràn vào đất ở, đường |
| Ao lắng, mương lắng | Hộ nuôi tôm, diêm dân | Để bùn lắng, nước bớt đục trước khi dùng |
Ranh giới giữa công trình chung và của từng hộ không phải lúc nào cũng rõ. Khi cần sửa một cái cống, đắp một đoạn bờ dùng chung, nên hỏi ban ấp hoặc cán bộ phụ trách thuỷ lợi của xã xem thuộc trách nhiệm của ai trước khi tự làm.
Cống: cái van đóng mở theo con nước
Nếu rạch là mạch máu thì cống là cái van. Cống nhỏ của từng ao vuông thường là ống bê tông hoặc ống nhựa lớn xuyên qua bờ, có ván phai hoặc cửa gỗ để đóng mở. Khi nước lớn, người nuôi rút ván cho nước vào; khi đủ, đóng lại; khi cần thay nước hay thu hoạch, mở cống lúc nước ròng để xả. Ở vuông quảng canh, người ta còn đặt đó ở miệng cống để hứng tôm cá theo dòng nước ra.
Cống lớn trên các kênh chính phục vụ cả khu: đóng lại khi triều cường để nước không tràn vào đất ở, mở ra để tiêu nước mưa. Vận hành cống lớn cần thống nhất giữa nhiều hộ, vì người làm muối muốn nước mặn vào, người nuôi tôm muốn nước sạch, người trồng vườn lại muốn ngăn mặn. Những quy ước đóng mở thường được bàn trong ấp, có khi qua tổ hợp tác.
Một điều người mới hay quên là nước lấy qua cống không chỉ có nước sông. Rạch nối nhiều ao với nhau, nên cùng một con nước có thể mang theo nước vừa xả từ ao bên trên, nước nhạt sau mưa hoặc bùn bị khuấy lên. Người nuôi lâu năm vì thế nhìn màu nước, đo độ mặn, hỏi hàng xóm vừa xả ao chưa rồi mới mở cống. Ở nơi có tổ hợp tác, các hộ hay thoả thuận lịch xả nước để không xả vào đúng lúc nhà bên cạnh đang lấy.
Cống hư là chuyện nhỏ thành chuyện lớn. Một cái cống rỉ nước ngày thường không sao, nhưng ngày triều cường có thể bị nước khoét rộng, làm sụp cả đoạn bờ. Kiểm tra cống trước mùa nước lớn cuối năm, thay ván mục, nhét kín chỗ rò là việc người nuôi tôm lâu năm không bỏ qua.
Bờ bao: thứ giữ đất mà người ngoài ít để ý
Bờ bao ao vuông. Đắp bằng chính đất đào ao, nện chặt, mặt bờ đủ rộng để đi lại. Bờ phải cao hơn mức nước lớn nhất trong năm và đủ dày để không thấm qua. Bờ mới đắp dễ sụt khi gặp mưa lớn và nước lên cùng lúc.
Bờ bao khu dân cư. Ở nhiều đoạn, đường đi chính là bờ bao: vừa làm lối đi, vừa ngăn nước sông, nước rạch tràn vào nhà. Khi bờ được nâng cao và làm mặt bê tông, đường tốt hơn nhưng nước mưa phía trong lại khó thoát nếu cống không đủ.
Bờ ruộng muối. Thấp và bằng, chia ô chính xác để điều nước từ ô chứa sang ô bốc hơi rồi ô kết tinh. Một bờ ruộng muối bị nước tràn qua lúc trời đang nắng có thể làm mất cả mẻ muối của mấy ngày.
Kẻ thù của bờ bao. Hang cua, hang còng và chuột đào xuyên bờ; nước triều cường kéo dài nhiều ngày làm bờ ngấm nước; sóng gió ở mặt ao rộng đánh vào chân bờ. Người nuôi thường đi thăm bờ hằng ngày vào mùa nước lớn, thấy lỗ rò là vá ngay.
Cây trên bờ. Nhiều nhà để cỏ, trồng dừa nước hoặc giữ cây ngập mặn trên bờ và chân bờ để rễ giữ đất. Bờ trọc dễ bị mưa xói và sóng ăn hơn bờ có cây.
Rạch bị bồi lấp và bị chặn: chuyện của cả xóm
Theo thời gian, rạch nào cũng bị bồi: phù sa lắng ở chỗ nước chậm, lá cây và rác tích lại, hai bờ sụt xuống lòng. Rạch tự nhiên còn bị thu hẹp khi người ta lấn bờ làm ao, làm nhà, hoặc đắp ngang để làm đường mà ống cống đặt qua quá nhỏ. Một con rạch từng cho ghe chở muối vào được, vài chục năm sau có thể chỉ còn là mương nhỏ.
Hậu quả không chỉ rơi vào nhà sát rạch. Rạch cạn thì nước triều vào ít, ao nuôi phía trong thiếu nước sạch, ruộng muối thiếu nước mặn. Mùa mưa, nước trong khu không thoát kịp, vườn và đường ngập lâu hơn. Phía rừng, đường nước bị chặn có thể làm cả khoảnh cây yếu đi. Vì vậy việc nạo vét rạch, khơi thông cống thường được làm chung theo ấp hoặc theo công trình của xã.
Với người định mua hay thuê đất, nên để ý con rạch gần khu đất: nó còn thông ra sông không, nước còn vào ra theo triều không, có ai đang đắp chặn phía dưới không. Đất cạnh một con rạch đang chết dần sẽ khó nuôi trồng và dễ úng khi mưa, dù trên giấy nhìn rất đẹp.
Mạng nước đổi vai theo mùa
Cùng một hệ thống rạch và cống nhưng mỗi mùa nó làm một việc khác. Mùa khô, thường từ khoảng tháng 12 tới tháng 4 năm sau, nước sông mặn hơn và ít mưa; đây là mùa vùng Lý Nhơn đưa nước mặn vào ruộng muối, mương dẫn chạy gần như liên tục theo con nước rong. Người nuôi tôm phải canh độ mặn trong ao vì nắng làm nước bốc hơi, ao mặn lên nhanh. Người trồng vườn lo giữ chút nước ngọt, đóng cống để mặn khỏi lấn vào mương vườn.
Mùa mưa, khoảng tháng 5 tới tháng 11, mạng nước chuyển sang việc tiêu nước. Mưa lớn đổ xuống đất thấp cần thoát ra rạch rồi ra sông, mà nếu mưa trùng lúc nước lớn thì nước không chảy ra được, vườn và đường ngập cho tới khi nước ròng. Nhiều ruộng muối nghỉ vụ, có nơi chuyển sang thả tôm cá. Cuối mùa mưa là mùa triều cường, cống lớn phải đóng nhiều hơn để ngăn nước tràn vào khu dân cư.
Hiểu nhịp đổi vai này giúp người mới đỡ ngạc nhiên vì sao cái cống hôm trước mở hôm nay đóng, vì sao nhà làm muối và nhà nuôi tôm có lúc muốn hai việc ngược nhau trên cùng một con kênh. Nó cũng giải thích vì sao các cuộc họp ấp về thuỷ lợi thường rơi vào thời điểm chuyển mùa.
Những việc gia đình ven rạch nên làm
Giữ cho mạng nước nhỏ chạy tốt không cần công trình lớn, phần nhiều là những việc nhỏ làm đều tay:
- Không đổ rác, xà bần, bùn đào ao xuống rạch; rác chặn cống và làm rạch cạn nhanh hơn mọi thứ khác.
- Kiểm tra cống, ván phai, bờ bao trước mùa triều cường cuối năm và sau mỗi trận mưa lớn.
- Khi muốn đặt cống qua rạch để làm lối đi, dùng ống đủ lớn để nước triều vẫn vào ra được, và hỏi ấp trước.
- Giữ cây ở mép rạch, đặc biệt cây ngập mặn và dừa nước, để rễ giữ bờ.
- Báo cho ban ấp khi thấy rạch bị đắp chặn, cống chung hư hoặc bờ chung có dấu hiệu vỡ.
- Góp công, góp sức khi xóm tổ chức nạo vét; một đoạn rạch được khơi thông có lợi cho mọi nhà dọc theo nó.
Chuyện xin phép khi đào ao, đắp bờ, đặt cống trên đất nông nghiệp hay gần rạch công cộng thuộc mục thủ tục hành chính; nguyên tắc chung là hỏi xã trước khi làm thay đổi đường nước.
Câu hỏi thường gặp
Rạch và kênh khác nhau thế nào?
Rạch thường là dòng nước tự nhiên, uốn khúc, hình thành cùng với đất bồi và chịu thuỷ triều. Kênh, mương thường do con người đào, thẳng hơn, phục vụ dẫn nước hoặc thoát nước. Ở An Thới Đông nhiều rạch đã được nạo vét, nắn bớt nên ranh giới giữa hai khái niệm trong cách gọi hằng ngày không còn rõ.
Vì sao rạch trước nhà ngày càng cạn?
Rạch bị bồi bởi phù sa, lá cây, rác và bờ sụt xuống lòng; ngoài ra có thể bị thu hẹp do lấn bờ hoặc bị đắp ngang với ống cống quá nhỏ. Khi dòng triều yếu đi, bùn lắng càng nhanh. Cần nạo vét định kỳ và giữ đường nước thông ra sông.
Ai chịu trách nhiệm nạo vét rạch?
Tuỳ con rạch. Kênh rạch chính thường thuộc công trình thuỷ lợi do chính quyền quản lý và có kế hoạch nạo vét. Mương nhỏ trong đất của hộ nào thì hộ đó lo. Rạch dùng chung giữa nhiều hộ thường do ấp vận động làm chung. Nên hỏi ban ấp hoặc xã để biết rõ.
Có được tự đắp chặn rạch để làm đường vào nhà không?
Không nên tự làm. Rạch là đường nước chung, chặn rạch có thể làm úng hoặc thiếu nước cho cả khu phía trong và phía rừng. Muốn làm lối đi qua rạch cần hỏi xã, dùng cống đủ lớn hoặc làm cầu nhỏ, để nước triều vẫn vào ra bình thường.
Vì sao bờ bao ao tôm hay bị rò?
Bờ đắp bằng đất bùn, dễ bị cua, còng, chuột đào hang xuyên qua; nước triều cường kéo dài làm bờ ngấm nước và yếu; sóng trên mặt ao rộng xói chân bờ. Bờ mới đắp còn lún và nứt. Thăm bờ thường xuyên và vá ngay chỗ rò là cách phòng hiệu quả nhất.
Mùa mưa nước trong vườn không thoát được thì làm sao?
Kiểm tra xem mương thoát và cống ra rạch có bị rác, bùn chặn không, và cống có đang bị đóng do lịch ngăn triều không. Nếu cả khu đều ngập do cống chung hoặc rạch chung, nên báo ban ấp để phối hợp khơi thông thay vì tự đào xả qua bờ của nhà khác.