Bãi bồi là những dải bùn ven sông, ven cửa rạch nhô lên khi nước ròng và ngập khi nước lớn. Ở vùng Lý Nhơn của xã An Thới Đông, gần cửa Soài Rạp, bãi bồi hình thành ở những khúc nước chảy chậm; cây mắm thường mọc trước trên bùn non, giữ bùn cho bãi cao lên, rồi các loài khác theo sau và rừng lớn dần ra phía sông.
Bãi bồi là nơi đất của xã đang được tạo ra ngay trước mắt, cũng là nơi nhiều nhà kiếm thêm bằng nghề bắt ốc, ba khía, cá thòi lòi. Bài này giải thích bãi hình thành thế nào, cây gì mọc trước, sinh vật gì sống trên đó, người dân dùng bãi ra sao, và những điều nên giữ khi bước xuống bùn. Cơ chế phù sa của cả vùng Cần Giờ đã có ở trang tổng quan; ở đây nói về bãi bồi nhìn từ trong xã.
Bãi bồi hình thành ở đâu và vì sao
Phù sa trong nước Soài Rạp lắng xuống ở những chỗ dòng chảy yếu đi: mặt trong của khúc sông, vùng nước quẩn ở cửa rạch, phía sau một doi đất hoặc một hàng cây. Ở vùng gần cửa sông như Lý Nhơn, nước ngọt gặp nước mặn còn làm các hạt bùn mịn kết lại thành hạt lớn hơn và chìm nhanh hơn, góp phần tạo bãi. Mỗi con nước để lại một lớp mỏng; qua nhiều tháng, bãi dày lên thấy được.
Bãi bồi không lớn đều. Có năm bãi lớn nhanh, có năm bị dòng chảy hoặc sóng gió mùa chướng cuốn bớt đi. Cùng lúc bãi chỗ này bồi ra thì có thể bờ chỗ khác đang lở, vì sông chỉ chuyển bùn từ nơi này sang nơi khác. Người ở ven sông lâu năm thường kể được chỗ nào ngày nhỏ còn là nước mà nay đã là rừng, và chỗ nào ngày trước có bãi mà nay đã mất.
Gió mùa cũng để lại dấu trên bãi. Mùa gió chướng, sóng từ phía biển đánh vào mạnh hơn, có thể cuốn bớt lớp bùn mỏng ở rìa ngoài; mùa mưa, nước thượng nguồn đổ về nhiều phù sa hơn, bãi lại được bồi thêm. Vì vậy muốn biết một bãi đang lớn hay đang mất, phải nhìn qua nhiều mùa, không nên kết luận sau một lần đến. Người làm nghề trên bãi thường biết rõ mùa nào bãi mềm, mùa nào bãi chắc hơn, và chọn chỗ đi theo đó.
Hình dạng bãi thay đổi theo con nước trong ngày. Lúc nước ròng nước kém, bãi lộ ra rộng nhất, phẳng và bóng nước; lúc nước lớn nước rong, bãi chìm hẳn, chỉ còn ngọn cây mắm non ló lên. Khách đến lần đầu vào giờ nước lớn có khi không biết ở đó có bãi.
Cây mắm mở đất, rừng theo sau
Bùn non trơ trụi. Bãi mới nổi chỉ là bùn mềm, ngập phần lớn thời gian trong ngày. Chỉ vài loài chịu được điều kiện này, và cây mắm là loài thường thấy đứng ở hàng đầu trên các bãi bồi vùng cửa sông phía nam.
Mắm bám rễ. Mắm có hệ rễ thở mọc nhô lên khỏi bùn như những que nhọn, giúp cây lấy khí khi bùn thiếu ô xy. Rễ ngang lan rộng giữ bùn, làm chậm dòng nước quanh gốc, khiến bùn lắng nhiều hơn ngay chỗ cây đứng.
Bãi cao dần. Khi đám mắm dày lên, mặt bãi cao dần, thời gian ngập trong ngày ngắn lại. Bần thường mọc ở chỗ nước lợ nhạt hơn ven sông, rạch; dừa nước mọc ở mép rạch có nước ngọt pha.
Đước theo sau. Khi đất đã cao và ổn định hơn, đước, loài có rễ chống hình vòng cung, sinh trưởng tốt. Ở vùng Cần Giờ, phần lớn rừng đước hiện nay là rừng trồng lại sau chiến tranh, trên nền đất đã qua giai đoạn này.
Đất có thể khai thác. Ở tận cùng chuỗi biến đổi, đất bồi lâu năm phía trong có thể được đắp bờ làm ruộng muối, ao nuôi. Ngày nay phần lớn bãi bồi và rừng mới ven sông được giữ làm rừng phòng hộ, không còn mở ra như trước.
Những sinh vật sống trên bãi bùn
Nhìn qua, bãi bùn có vẻ trống. Nhưng ngồi yên một lúc lúc nước ròng sẽ thấy bãi rất đông. Cá thòi lòi nhảy trên mặt bùn, dựng vây lưng; còng gió và còng đỏ chạy ra khỏi hang rồi rút vào khi có động; ba khía bò quanh gốc cây; ốc len bám trên rễ và thân mắm. Dưới lớp bùn là giun, sò, ốc nhỏ và nhiều loài mà mắt thường khó thấy.
Rừng mắm non trên bãi cũng có đời sống riêng. Ở gốc cây, bùn được rễ giữ lại nên cao hơn xung quanh một chút, thành những gò nhỏ là chỗ ở của còng và ba khía. Lá mắm rụng xuống bị nước cuốn đi một phần, phần còn lại mục ra thành thức ăn cho sinh vật nhỏ, rồi sinh vật nhỏ lại là mồi cho cá và chim. Một bãi có cây và một bãi trơ trụi khác nhau rất xa về lượng sinh vật sống trên đó.
Bãi bồi là bàn ăn của chim. Lúc nước ròng, cò trắng, diệc, các loài chim lội nhỏ xuống bãi bới tìm cá, tôm, giun. Khi nước lên, chúng bay vào rừng hoặc dời sang bãi khác còn trơ. Người thích ngắm chim chỉ cần chọn đúng giờ nước ròng và ngồi ở bờ cao, không cần xuống bùn.
Bãi bồi còn là nơi ươm của nhiều loài tôm cá. Con non theo nước triều vào vùng bãi và rừng ven sông, nơi nước nông, nhiều thức ăn và có rễ cây che chở, rồi khi lớn mới ra sông, ra biển. Vì thế giữ bãi bồi và rừng non ven sông cũng là giữ nguồn lợi cho chính nghề đánh bắt của xã.
Người dân dùng bãi bồi như thế nào
Bãi bồi trong xã không phải đất bỏ không. Bảng dưới gom các cách dùng phổ biến và điều cần lưu ý cho từng cách:
| Hoạt động | Làm lúc nào | Cần lưu ý |
|---|---|---|
| Bắt ốc len, ba khía, còng | Lúc nước ròng, bãi trơ | Vào bờ trước khi nước lên; không đào phá gốc cây |
| Câu, bắt cá thòi lòi, cá kèo | Lúc nước ròng, ở mép bãi và cửa rạch | Bùn lún, đi theo lối quen |
| Đặt lưới, đặt đó mép bãi | Theo con nước, thu lúc nước đổi chiều | Tôn trọng chỗ đặt quen của người khác |
| Trồng rừng, giữ rừng non | Theo kế hoạch của đơn vị quản lý rừng | Không tự ý chiếm bãi làm ao |
| Ngắm chim, chụp ảnh | Sáng sớm hoặc chiều, lúc nước ròng | Đứng ở bờ cao, không xua chim |
Bãi bồi ven sông thường nằm trong diện quản lý của nhà nước, có nơi thuộc rừng phòng hộ. Việc khai thác thuỷ sản tự nhiên ở mức nhỏ của người dân là chuyện quen, nhưng đắp bờ, rào bãi làm ao riêng là việc phải có phép, không thể tự làm.
Đọc một bãi bồi bằng mắt: đang lớn hay đang mất
Mắm non mọc rải ra phía ngoài. Nếu thấy những cây mắm nhỏ, cao chưa tới đầu gối, mọc lác đác ở rìa ngoài của đám rừng, đó là dấu hiệu bãi đang lấn ra sông. Cây non chỉ bám được khi bùn đã đủ cao và đủ yên.
Mặt bãi phẳng, bóng, có lớp bùn mịn mới. Bùn mới lắng thường mịn, mềm và màu nhạt hơn bùn cũ. Bãi phủ lớp bùn này sau mỗi con nước là bãi đang được bồi.
Rìa rừng có vách bùn dựng đứng. Nếu mép đám cây kết thúc bằng một vách bùn thẳng đứng cao vài tấc, rễ trơ ra, cây ngoài cùng nghiêng hoặc đổ, thì bãi và rừng ở đó đang bị sóng, dòng chảy ăn vào.
Có rãnh xói chạy ngang bãi. Những rãnh nước khoét sâu trên mặt bãi, nhất là rãnh mở rộng dần qua các tháng, cho thấy nước ròng đang kéo bùn đi nhiều hơn lượng bùn được bồi vào.
Hỏi người già trong xóm. Không phép quan sát nào bằng trí nhớ của người đã nhìn bãi mấy chục năm. Họ kể được bãi lớn ra hay lùi vào, sau những năm nào, và thường đúng với những gì ảnh vệ tinh nhiều năm cho thấy.
An toàn khi xuống bãi bồi
Bãi bùn nhìn phẳng và hiền nhưng đã có nhiều người gặp nạn ở các bãi bồi ven biển phía nam. Những điều người lớn trong xã dặn:
- Không xuống bãi một mình, nhất là người chưa quen; đi theo người địa phương biết lối.
- Xem con nước trước: đi lúc nước bắt đầu ròng, quay vào trước khi nước lên, chừa thời gian dư.
- Bùn non có thể lún tới đầu gối, tới đùi. Khi bị lún, không giãy mạnh; ngả người về phía sau để dàn trọng lượng, rút từng chân từ từ, hoặc gọi người hỗ trợ.
- Mang giày lội bùn hoặc vớ dày; vỏ hàu, vỏ ốc và rễ thở nhọn của cây mắm dễ làm rách chân.
- Không đi bãi ban đêm, không đi khi trời giông, gió lớn.
- Trẻ nhỏ chỉ chơi ở mép bãi sát bờ, có người lớn kèm sát.
- Rửa sạch vết xước sau khi lên bờ; vết thương dính bùn dễ nhiễm trùng, sưng đau thì đi khám ở cơ sở y tế gần nhất.
Bùn và nước lợ còn làm ướt, lạnh nhanh hơn người ta tưởng khi gió chướng thổi. Đem theo áo khô và nước uống nếu định ở trên bãi lâu.
Bãi bồi trong tương lai của xã
Bãi bồi là phần đất mà xã An Thới Đông có thể "nhận thêm" từ sông, nhưng không phải miễn phí. Nó phụ thuộc vào lượng phù sa từ thượng nguồn, vốn có thể giảm khi các hồ chứa giữ bớt bùn cát và khi lòng sông bị khai thác cát. Nó cũng phụ thuộc vào dòng chảy, sóng và mực nước biển. Các nghiên cứu về vùng cửa sông phía nam thường nhắc rằng cân bằng giữa bồi và lở đang chịu nhiều tác động hơn trước.
Ở cấp xã, điều quan trọng là giữ cho bãi có cơ hội lớn lên: không chặt cây mắm non, không đắp rào bãi trái phép, không đổ rác và xà bần ra mép sông. Những đợt trồng rừng ngập mặn trên bãi bồi, khi được tổ chức, là dịp người dân và học sinh trong xã góp tay.
Với người làm ăn, bãi bồi không phải quỹ đất để chờ khai thác. Phần lớn bãi và rừng mới ven sông được giữ làm vùng đệm bảo vệ bờ và nguồn lợi thuỷ sản. Hiểu điều đó giúp tránh những giao dịch "đất bãi" thiếu cơ sở pháp lý, chuyện từng xảy ra ở nhiều vùng ven sông, ven biển.
Câu hỏi thường gặp
Bãi bồi khác bãi biển thế nào?
Bãi bồi ở vùng Lý Nhơn là bãi bùn sét mịn do phù sa sông lắng lại, mềm, ngập theo thuỷ triều và có cây ngập mặn. Bãi biển cát ở các vùng biển khác cứng hơn, ít bùn. Bãi bồi không phải chỗ tắm hay đi dạo như bãi cát; đi trên đó cần cẩn thận vì dễ lún.
Cây mắm có phải cây đước không?
Không. Mắm có rễ thở mọc nhô lên khỏi bùn như que nhọn, thường mọc trước trên bãi bùn non. Đước có rễ chống hình vòng cung từ thân cắm xuống, thường mọc ở đất đã cao và ổn định hơn. Cả hai đều là cây ngập mặn và hay thấy trong rừng vùng Cần Giờ.
Có được tự rào bãi bồi để nuôi tôm, nuôi nghêu không?
Không nên tự làm. Bãi bồi ven sông thường thuộc đất do nhà nước quản lý, có nơi nằm trong rừng phòng hộ. Rào bãi, đắp bờ làm ao cần được phép và phù hợp quy hoạch. Muốn sử dụng bãi để nuôi trồng, cần hỏi UBND xã và cơ quan quản lý về điều kiện.
Đi ngắm chim trên bãi bồi lúc nào đẹp?
Lúc nước ròng là lúc chim xuống bãi kiếm ăn nhiều nhất, đẹp nhất vào sáng sớm hoặc chiều muộn khi ánh sáng dịu. Nên đứng ở bờ cao, giữ khoảng cách, nói nhỏ và không xua chim. Mang ống nhòm sẽ thấy rõ hơn mà không cần xuống bùn.
Bị lún bùn trên bãi thì xử lý thế nào?
Giữ bình tĩnh, không giãy mạnh vì càng giãy càng lún. Ngả người ra sau hoặc nằm nghiêng để dàn trọng lượng lên diện rộng, rút từng chân từ từ, xoay nhẹ cổ chân cho bùn lỏng ra. Gọi người hỗ trợ đưa cây dài hoặc ván để bám. Phải thoát trước khi nước lên.
Bãi bồi có giúp giảm sạt lở không?
Có. Bãi bồi và lớp cây ngập mặn trên đó làm giảm sóng và dòng chảy trước khi tới bờ, giữ bùn ở chân bờ. Đoạn bờ có bãi và rừng phía trước thường ổn định hơn đoạn bờ trơ. Vì vậy giữ bãi và trồng cây trên bãi là một phần của cách phòng sạt lở.