Ở các ấp An Thới Đông, đi một đoạn đường là gặp một cái miễu nhỏ dưới gốc cây, ven rạch hay đầu cầu; lớn hơn là những ngôi miếu thờ Bà, và ở mỗi vùng dân cư lâu đời thường có một ngôi đình làng. Đây là những công trình văn hoá gắn với lịch sử khai phá vùng đất: nơi người xưa gửi gắm mong muốn bình an khi sống giữa rừng sác, sông lớn và nước mặn.
Như khắp Nam Bộ, đình làng ở vùng này thờ Thành hoàng bổn cảnh và các bậc tiền hiền, hậu hiền đã có công lập làng; lễ cúng lớn trong năm là lễ Kỳ yên, cầu cho xóm làng yên ổn, mưa thuận gió hoà. Bài này tả đình miếu như một phần đời sống ấp xóm: hình dạng, người giữ lệ, nhịp cúng trong năm và cách người ngoài nên cư xử khi ghé thăm hoặc dự lễ. Tên đình, miếu cụ thể và ngày lễ chính xác của từng nơi nên hỏi ban quý tế địa phương.
Ba lớp công trình thờ cúng trong một xã ven sông
Đình làng. Là công trình chung của cả làng, thường dựng ở khu đất cao, nơi dân cư hình thành sớm. Đình Nam Bộ có võ ca, chánh điện, sân rộng, cột gỗ, mái ngói hoặc mái tôn khi trùng tu. Ngoài thờ cúng, đình từng là nơi hội họp, xử việc làng, nay là nơi tổ chức lễ Kỳ yên và các sinh hoạt văn hoá.
Miếu thờ Bà. Ở vùng sông nước Nam Bộ, nhiều xóm có miếu thờ Bà, thường được dân gian gọi theo tên vị Bà mà xóm tôn thờ. Miếu Bà nhỏ hơn đình, có lệ cúng riêng, phụ nữ trong xóm thường là người chăm lo nhiều.
Miễu nhỏ ven đường, ven rạch. Là những am thờ nhỏ, có khi chỉ bằng cái tủ, đặt dưới gốc cây lớn, đầu cầu, ngã ba. Người dân dựng để thờ thần đất, thần cây hoặc nhớ một sự việc ở nơi ấy. Hàng xóm gần đó thắp nhang ngày rằm, mùng một.
Lăng Ông ở vùng biển. Tục thờ cá Ông và lễ Nghinh Ông lớn nhất của vùng Cần Giờ diễn ra ở Cần Thạnh, phía biển. An Thới Đông là xã ven sông nên không có lệ này ở quy mô đó; người trong xã muốn dự thường đi xuống Cần Thạnh.
Đình làng trong đời sống ấp
Ở vùng đất như An Thới Đông, đình làng mang dấu ấn của những đợt người đến khai phá, rời đi vì chiến tranh rồi trở về. Nhiều ngôi đình trong vùng Cần Giờ đã trải qua hư hại, được dân làng góp tiền, góp công trùng tu nhiều lần. Vì vậy hình dạng một ngôi đình hôm nay có thể là sự chồng lớp: cột gỗ cũ cạnh cột bê tông mới, mái ngói xen mái tôn, bức hoành phi mới treo bên câu đối cũ.
Ngày thường, đình khá vắng. Người giữ đình, thường là một ông lớn tuổi trong ban quý tế hoặc người được làng nhờ, quét dọn, thắp nhang sáng chiều, mở cửa khi có người đến. Sân đình có khi là chỗ trẻ con chơi chiều, chỗ người già ngồi hóng mát, chỗ họp tổ dân cư khi cần một nơi rộng.
Những ngày lễ, đình trở thành trung tâm của xóm. Các nhà góp gạo, góp tiền, góp trái cây; đàn ông dựng rạp, kê bàn; phụ nữ nấu cỗ; con cháu ở xa cũng về. Với nhiều người lớn tuổi, đi đình ngày Kỳ yên là một trong những dịp hiếm hoi cả xóm cùng ngồi lại với nhau trong năm.
Một mùa lễ Kỳ yên ở đình làng Nam Bộ
Lễ Kỳ yên ở mỗi đình có ngày riêng theo lệ làng, thường rơi vào khoảng đầu năm hoặc cuối năm âm lịch, kéo dài một tới vài ngày. Trình tự dưới đây là khung phổ biến ở đình Nam Bộ; thứ tự và tên gọi từng nghi thức ở từng nơi có thể khác:
- Họp ban quý tế định ngày, phân công việc, thông báo cho bà con trong ấp và con cháu ở xa.
- Dọn dẹp, trang trí đình, dựng rạp, chuẩn bị lễ vật: heo quay hoặc thịt heo, xôi, trái cây, hoa, rượu, trà.
- Lễ thỉnh sắc hoặc lễ rước, tuỳ đình: rước bài vị, sắc thần từ nơi cất giữ về chánh điện.
- Lễ túc yết, tế chính: ban tế mặc áo lễ, đọc văn tế, dâng lễ theo nghi thức cổ truyền, có nhạc lễ đi kèm.
- Lễ cúng tiền hiền, hậu hiền: tưởng nhớ những người có công khai phá và xây dựng làng.
- Phần hội: trước đây nhiều đình mời gánh hát bội hát mừng; ngày nay có nơi tổ chức văn nghệ, đờn ca tài tử, hoặc chỉ đơn giản là bữa cơm chung.
- Ăn cỗ, chia lộc cho bà con, dọn dẹp, ban quý tế tổng kết thu chi và công khai với dân làng.
Kỳ yên là lễ cầu an cho cả cộng đồng, không phải lễ riêng của ai. Vì vậy người trong ấp, dù không theo việc cúng kiếng hằng ngày, vẫn góp phần và đến dự như một sinh hoạt làng.
Ban quý tế và những người giữ lệ
Mỗi đình có một ban quý tế, gồm các ông lớn tuổi, có uy tín trong làng, đảm nhận việc giữ đình, tổ chức lễ, giữ sổ sách và tiền công đức. Trong ban có người làm chánh bái, người lo văn tế, người lo nhạc lễ, người lo hậu cần. Phần lớn họ làm việc này không công, coi đó là nghĩa vụ với làng.
Cái khó của nhiều đình ở vùng ven như An Thới Đông là người giữ lệ ngày càng già, người trẻ ít ai theo. Văn tế chữ Hán Nôm ít người đọc được, nhạc lễ cần người biết đánh trống, thổi kèn theo bài bản. Một số đình phải mời người từ nơi khác về giúp vào dịp lễ lớn, hoặc giản lược bớt nghi thức.
Người lớn tuổi trong ban quý tế cũng là nguồn tư liệu sống về lịch sử làng: ai lập làng, đình được dựng từ năm nào theo lời truyền, những lần trùng tu, những biến cố. Người muốn tìm hiểu lịch sử xóm mình nên ngồi nghe các cụ kể, ghi chép lại, vì những câu chuyện ấy ít khi được viết thành sách.
Những dịp cúng khác trong năm của xóm
Ngoài lễ Kỳ yên, đình miếu trong ấp còn đông người vào vài dịp khác. Chiều ba mươi Tết và sáng mùng một, nhiều gia đình ghé đình, miếu thắp nhang đầu năm, có nơi ban quý tế tổ chức cúng giao thừa. Rằm tháng giêng là một dịp lớn khác, miếu Bà thường đông phụ nữ trong xóm mang lễ vật đến cúng.
Một số miếu có ngày vía riêng theo lệ, khi đó người trong xóm góp lễ, nấu chè, nấu xôi chia nhau. Những dịp ấy không ồn ào như lễ hội lớn ở vùng biển, chỉ là vài chục người quen biết, một mâm lễ, một bữa ăn chung, nhưng là chất keo giữ cho xóm còn là xóm.
Người ở xa về quê dịp Tết thường được cha mẹ dắt ra đình, ra miếu đầu năm, chỉ cho chỗ ông bà từng ngồi, cây cột ông nội từng góp tiền dựng lại. Với nhiều người trẻ, đó là lúc họ hiểu rằng đình miếu không chỉ là chỗ cúng mà là nơi ghi dấu gia đình mình trong lịch sử của xóm.
Miễu nhỏ và nhịp cúng hằng tháng của xóm
Nếu đình là chuyện của cả làng, thì miễu nhỏ ven đường là chuyện của một xóm, có khi của vài nhà. Ngày rằm, mùng một, người sống gần miễu ra thắp nhang, thay nước, đặt vài trái chuối, nải bông. Dịp Tết, miễu được sơn lại, treo đèn. Có những miễu được dựng lại sau khi đường mở rộng, dời vào trong lề mà không ai dám bỏ.
Người trong xóm giải thích việc giữ miễu theo nhiều cách: nhớ ông bà đã dựng, mong đoạn đường đó bớt tai nạn, mong khúc sông đó bớt sóng gió, hay đơn giản là thấy có cái miễu đầu xóm thì yên lòng. Không ai bắt buộc ai, nhưng cũng hiếm ai muốn để miễu hoang tàn.
Người mới về ở gần miễu không cần tham gia cúng bái, nhưng nên tôn trọng: không dựng xe, chất đồ sát miễu, không làm hư hại, không chặt cây cổ thụ che miễu khi chưa hỏi hàng xóm. Những chuyện tưởng nhỏ như vậy đã nhiều lần thành xích mích ở các xóm ven đô.
Người ngoài ghé đình, miếu hoặc dự lễ cúng làng nên giữ phép
Khách từ thành phố, người mới về hay con cháu ở xa về dự lễ đều được chào đón ở đình làng. Vài điều giúp mọi người thấy thoải mái:
- Ăn mặc kín đáo, gọn gàng; không mặc quần đùi, áo hở khi vào chánh điện.
- Hỏi người giữ đình trước khi vào bên trong, nhất là khi cửa đóng.
- Không chụp ảnh khu vực thờ chính nếu có bảng nhắc hoặc khi người giữ đình không đồng ý; trong lễ chính, đứng gọn một bên, không chen vào hàng ban tế để chụp.
- Không ngồi lên bàn, bệ, không chạm vào đồ thờ, trống chiêng.
- Nếu muốn góp công đức, đưa cho người trong ban quý tế và nhận biên nhận nếu có.
- Nói nhỏ, tắt chuông điện thoại trong lúc tế; trẻ em đi cùng nên được người lớn trông.
- Ăn cỗ cùng làng thì ngồi chỗ được mời, chờ người lớn bắt đầu, không mang đồ ăn về khi chưa được mời.
Đình làng không phải điểm tham quan có hướng dẫn viên; người giữ đình thường vui khi có ai hỏi chuyện, nhưng cũng cần được tôn trọng giờ nghỉ của họ.
Giữ đình miếu như giữ ký ức của xã
Sau sáp nhập 7/2025, tên xã đổi, ranh giới đổi, nhưng các đình miếu vẫn đứng ở chỗ cũ và vẫn được người trong ấp gọi theo tên quen. Với nhiều gia đình, đình làng là dấu mốc định vị quê hương rõ hơn mọi tờ giấy: nói "nhà gần đình" là người trong vùng biết ngay ở đâu.
Việc giữ gìn đình miếu hiện nay chủ yếu dựa vào công đức của dân, sự chăm lo của ban quý tế và sự quan tâm của chính quyền địa phương khi trùng tu. Những đình được công nhận di tích thì việc sửa chữa phải theo quy định riêng về bảo tồn di tích. Người dân muốn đóng góp hay đề xuất trùng tu nên làm việc với ban quý tế và UBND xã.
Với người trẻ, một cách giữ ký ức đơn giản là ghi lại: chụp ảnh đình miếu qua các năm, ghi âm lời các cụ kể, chép lại câu đối, hoành phi trước khi chúng phai mờ. Những tư liệu ấy, sau vài chục năm, là thứ duy nhất còn lại để con cháu biết xóm mình từng sống thế nào.
Câu hỏi thường gặp
Đình làng ở An Thới Đông thờ ai?
Như phần lớn đình Nam Bộ, đình làng thường thờ Thành hoàng bổn cảnh, vị thần bảo hộ làng, cùng các bậc tiền hiền, hậu hiền có công lập làng. Chi tiết từng đình, kể cả sắc phong nếu có, nên hỏi ban quý tế nơi đó.
Lễ Kỳ yên ở An Thới Đông diễn ra vào thời gian nào?
Mỗi đình có ngày lễ riêng theo lệ làng, thường vào khoảng đầu năm hoặc cuối năm âm lịch. Ngày cụ thể từng năm do ban quý tế định và thông báo cho bà con, nên hỏi trực tiếp người giữ đình hoặc người trong ấp.
Người ngoài có được dự lễ cúng đình không?
Được. Lễ Kỳ yên là lễ cộng đồng, khách đến dự thường được mời ăn cỗ. Chỉ cần ăn mặc gọn gàng, giữ trật tự trong lúc tế, không chen vào hàng ban tế, hỏi trước khi chụp ảnh và theo hướng dẫn của ban quý tế.
Lễ Nghinh Ông có tổ chức ở An Thới Đông không?
Lễ Nghinh Ông lớn của vùng Cần Giờ gắn với lăng Ông Thủy Tướng ở Cần Thạnh, phía biển. An Thới Đông là xã ven sông nên không có lễ ở quy mô đó; người trong xã muốn dự thường đi xuống Cần Thạnh vào dịp lễ.
Muốn góp công đức trùng tu đình miếu thì làm thế nào?
Liên hệ ban quý tế của đình hoặc người giữ miếu, góp tiền hoặc vật liệu và nhận biên nhận nếu có. Với đình là di tích được công nhận, việc trùng tu phải theo quy định bảo tồn, nên ban quý tế thường làm việc với chính quyền địa phương trước.
Có tài liệu nào về lịch sử đình làng trong xã không?
Tư liệu viết thường ít, phần lớn là lời kể của các cụ trong ban quý tế, câu đối, hoành phi và văn bản trùng tu lưu tại đình. Một số đình trong vùng Cần Giờ được nhắc trong các ấn phẩm địa chí; muốn tìm nên hỏi UBND xã và thư viện thành phố.