Vùng An Thới Đông và Lý Nhơn bên bờ sông Soài Rạp là đất khai phá muộn và vất vả hơn nhiều nơi khác ở Nam Bộ: đất thấp, nhiễm phèn mặn, rừng sác dày, nước lên xuống theo triều hai lần mỗi ngày. Người đến lập nghiệp chọn những chỗ đất cao hơn, gần rạch có nước, sống bằng đánh bắt sông rạch, làm ruộng mùa mưa, đốn củi, đốt than và về sau là làm muối, nuôi tôm.
Lịch sử cụ thể của từng gia đình, từng ấp ít khi được ghi chép, nên phần lớn những gì biết về giai đoạn đầu đến từ ba nguồn: hiểu biết chung về khai phá Nam Bộ, tư liệu về vùng Cần Giờ nói chung, và ký ức người cao tuổi trong xã. Bài này ghép ba nguồn đó, chỉ rõ chỗ nào là bức tranh chung, chỗ nào là chuyện riêng của vùng bờ tây Cần Giờ.
Bức tranh chung: Nam Bộ được khai phá từ đâu tới đâu
Người Việt vào vùng đất Gia Định từ thế kỷ XVII, và năm 1698 chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý, lập phủ Gia Định, đánh dấu việc tổ chức hành chính chính thức cho vùng đất mới. Những nơi được khai phá sớm là các giồng đất cao, ven sông lớn thuận đường thuyền, quanh Bến Nghé, Sài Gòn và dọc sông Đồng Nai. Vùng ngập mặn ven biển phía nam, tức Cần Giờ ngày nay, đến sau và thưa người trong thời gian dài.
Trước người Việt, vùng hạ lưu đã có cư dân sinh sống từ rất xa xưa. Ở vùng Cần Giờ, các di chỉ khảo cổ như Giồng Cá Vồ thuộc khu vực Long Hòa cho thấy có cộng đồng người cổ sống trên các giồng cát cách đây khoảng hai nghìn năm trở lên. Vùng bờ tây giáp Soài Rạp chưa thấy có di chỉ nổi tiếng tương tự được công bố rộng rãi, nhưng điều đó không có nghĩa là xưa kia không có người, chỉ là chưa có bằng chứng được biết tới.
Từ cái nền chung ấy, có thể hình dung An Thới Đông và Lý Nhơn thuộc lớp đất được khai phá muộn: khi những vùng thuận lợi đã có chủ, người đến sau phải tìm tới vùng khó hơn, chấp nhận đất mặn, rừng rậm và đường thuỷ xa để đổi lấy đất đai và nguồn lợi sông rạch còn dồi dào.
Sông Soài Rạp: con đường và cũng là ranh giới
Soài Rạp là một trong những dòng sông lớn của vùng cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai, chảy theo hướng bắc nam ở rìa phía tây vùng Cần Giờ rồi đổ ra biển. Sông rộng, nước đục phù sa, chịu ảnh hưởng mạnh của thuỷ triều, và ở đoạn hạ lưu còn nhận thêm nước từ hệ sông Vàm Cỏ phía Long An cũ. Với người khai phá, dòng sông vừa là đường giao thông chính vừa là ranh giới tự nhiên giữa bờ Cần Giờ và bờ Cần Giuộc, Cần Đước.
Trong thời kỳ chưa có đường bộ, mọi thứ đi theo nước: ghe chở người, chở lúa, chở muối, chở củi than lên chợ, chở hàng tạp hoá về xóm. Nhà cửa vì thế quay mặt ra sông hoặc ra rạch, có bến riêng hoặc dùng chung bến của xóm. Một gia đình có chiếc xuồng tốt là có phương tiện sinh sống, vì vừa đi lại vừa đánh bắt được.
Dòng sông cũng đem lại những thứ khó lường. Sóng gió lớn mùa chướng làm ghe nhỏ khó qua sông, bờ có đoạn bị nước khoét lở, có đoạn bồi thêm bãi mới. Người ven Soài Rạp quen sống với sự thay đổi ấy: dời nhà khi bờ lở, khai bãi khi đất bồi. Nhiều câu chuyện của người già trong xã bắt đầu bằng "hồi đó nhà còn ở ngoài mé sông".
Chọn chỗ ở trên đất ngập triều
Tìm đất cao. Ở vùng ngập triều, chênh lệch vài tấc cao độ đã quyết định có ở được hay không. Người xưa chọn các doi đất, bờ đất cao ven rạch hoặc tự đắp nền để làm nhà. Những chỗ như vậy về sau thành lõi của các xóm, các ấp.
Gần nước nhưng không sát sông lớn. Ở ngay mé sông lớn thì thuận đi lại nhưng chịu sóng gió và sạt lở. Nhiều xóm vì thế mọc dọc các con rạch nhánh, đủ gần để ra sông, đủ khuất để tránh gió.
Có nguồn nước ngọt. Đây là bài toán khó nhất. Nước sông, nước rạch lợ hoặc mặn phần lớn thời gian trong năm. Người ta hứng nước mưa, trữ trong lu khạp, đào ao trữ, mua nước ngọt từ ghe chở tới. Nơi nào trữ được nước ngọt, nơi đó có thể ở lâu dài.
Dựa vào rừng. Rừng sác cho cây làm cột nhà, lá dừa nước lợp mái, củi đun, và là nơi kiếm cua, cá, ốc. Nhà cửa xưa ở vùng này chủ yếu là nhà cột cây rừng, mái lá, vách lá hoặc ván, phù hợp với điều kiện và dễ dựng lại.
Người xưa kiếm sống bằng gì
Sinh kế ở vùng bờ tây Cần Giờ trong giai đoạn trước khi có đường bộ có thể tóm tắt theo mùa và theo nguồn lợi như bảng dưới. Đây là bức tranh chung được nhiều người lớn tuổi mô tả, mỗi gia đình kết hợp các nghề theo cách riêng.
| Nghề | Làm vào lúc nào | Đặc điểm |
|---|---|---|
| Đánh bắt sông rạch | Quanh năm, theo con nước | Cá, tôm, cua, ốc; dùng lưới, đăng, lờ, bắt tay trên bãi |
| Làm ruộng | Mùa mưa khi nước sông bớt mặn | Lúa một vụ, năng suất thấp, rủi ro mặn sớm |
| Đốn củi, đốt than | Chủ yếu mùa khô | Lấy cây rừng sác làm củi, đốt than bán lên chợ |
| Làm muối | Mùa khô nắng gió | Ở vùng đất trũng gần nước mặn như Lý Nhơn |
| Đi ghe buôn bán | Quanh năm | Chở sản vật lên chợ, chở hàng về xóm |
Nghề đốn củi, đốt than ngày nay không còn vì rừng đã thành rừng phòng hộ được bảo vệ nghiêm ngặt. Nhưng hiểu nghề này giúp giải thích vì sao rừng vùng Cần Giờ từng mỏng đi trước cả chiến tranh, và vì sao chính sách giao khoán giữ rừng về sau lại quan trọng đến vậy với người dân.
Ruộng lúa một vụ trên đất mặn
Người cao tuổi ở An Thới Đông cũ hay nhắc tới thời làm ruộng. Vùng đất phía bắc Cần Giờ, gần Bình Khánh và An Thới Đông, từng có những cánh đồng lúa trồng vào mùa mưa, khi lượng mưa và nước thượng nguồn đẩy mặn lùi xa, nước rạch đủ nhạt để cây lúa sống. Sang mùa khô, mặn xâm nhập, ruộng bỏ trống hoặc cho gia súc ăn cỏ.
Lúa ở đây năng suất không cao, dễ mất mùa nếu mưa trễ hay mặn về sớm. Người ta dùng giống chịu được điều kiện khắc nghiệt, đắp bờ giữ nước mưa, canh con nước để mở đóng cống. Làm ruộng không đủ giàu nhưng giúp gia đình có gạo ăn, bớt phụ thuộc vào ghe buôn.
Dần dần, khi nghề nuôi tôm cho thu nhập cao hơn và mặn ngày càng khó lường, nhiều ruộng lúa chuyển thành vuông tôm. Đó là một bước ngoặt lớn của cảnh quan: cánh đồng lúa xanh mùa mưa nhường chỗ cho mặt nước vuông ao quanh năm. Ngày nay muốn hình dung ruộng lúa An Thới Đông xưa, chỉ còn cách hỏi người già hoặc tìm ảnh cũ trong gia đình.
Những người đến sau: lớp cư dân mới của vùng bờ tây
Dân cư An Thới Đông và Lý Nhơn không hình thành một lần. Ngoài những gia đình ở lâu đời, qua các giai đoạn có nhiều lớp người đến thêm: người từ các tỉnh miền Tây, miền Trung tìm đất làm ăn, người đến làm thuê cho ruộng muối, vuông tôm rồi ở lại, người từ nội thành về sau năm 1975 tham gia trồng rừng, làm lâm trường, và gần đây là người về mở trang trại, homestay hoặc chọn sống ở nơi yên tĩnh.
Mỗi lớp người mang theo giọng nói, món ăn, cách làm nghề riêng, rồi hoà vào nhau qua hôn nhân, qua đám tiệc, qua công việc chung trên đồng muối, trên vuông. Đó là lý do khó nói "người An Thới Đông gốc" là ai; giống phần lớn Nam Bộ, đây là vùng đất của những người đến sau nối tiếp nhau.
Với người mới chuyển về, hiểu điều này giúp dễ hoà nhập. Người trong xã quen với người lạ đến làm ăn, chỉ cần tôn trọng nếp sinh hoạt, giữ gìn rừng và nguồn nước chung, tham gia những việc chung của ấp như sửa đường, dọn rạch, giỗ đình.
Tìm hiểu lịch sử khai phá của chính gia đình mình
Phần lớn lịch sử khai phá An Thới Đông, Lý Nhơn nằm trong các gia đình. Nếu muốn ghi lại, có thể bắt đầu từ những câu hỏi đơn giản sau.
- Ông bà, cha mẹ mình đến vùng này từ đâu, vào khoảng năm nào, đi bằng ghe hay đường bộ?
- Lúc đầu nhà ở chỗ nào, có phải dời nhà vì sạt lở, vì chiến tranh hay vì làm đường không?
- Gia đình sống bằng nghề gì qua từng giai đoạn: ruộng, muối, củi, tôm, giữ rừng hay buôn bán?
- Có giấy tờ cũ nào còn giữ: văn tự đất, giấy giao khoán, giấy khai sinh ghi tên làng, tên tổng?
- Có ảnh cũ chụp nhà cửa, ruộng đồng, ghe xuồng hay đám tiệc trong xóm không?
- Những tên đất, tên rạch nào trong lời kể của ông bà mà nay không còn ai gọi?
Ghi lại những câu trả lời, kèm tên người kể và ngày ghi, là đóng góp thật cho lịch sử xã, chính xác và sống động hơn mọi bài tổng hợp.
Chợ và ghe buôn: vùng bờ tây giao thương với bên ngoài thế nào
Khi chưa có đường bộ xuyên rừng, việc mua bán của người An Thới Đông, Lý Nhơn dựa vào ghe. Những chiếc ghe buôn chạy theo con nước, ghé từng bến xóm thu mua muối, cá khô, tôm, củi, than, rồi chở lên các chợ lớn phía Nhà Bè, Sài Gòn hoặc sang bên kia sông. Chuyến về, ghe chở gạo, nước mắm, dầu thắp, vải vóc, đồ dùng gia đình bán lại cho người trong xóm.
Người làm ghe buôn vì thế giữ vai trò như sợi dây nối vùng xa với thị trường. Họ biết giá, biết nơi cần hàng, nhiều khi ứng trước tiền hay hàng cho người làm muối, làm cá, rồi trừ dần vào sản phẩm. Quan hệ mua bán chịu, mua bán gối đầu kiểu này kéo dài sang cả thời có đường bộ, và ở những dạng khác vẫn còn trong quan hệ giữa người nuôi tôm với thương lái ngày nay.
Chợ trong xã hình thành ở những chỗ giao thông thuận, nơi ghe dễ ghé và người dễ tới, thường là đầu vàm, ngã ba rạch hay gần bến. Khi đường bộ mở ra, trọng tâm buôn bán dần dịch theo trục đường, và cảnh chợ họp trên bến, mua bán từ ghe xuống chỉ còn trong ký ức của người lớn tuổi.
Câu hỏi thường gặp
Vùng An Thới Đông có người ở từ bao giờ?
Chưa có mốc năm chắc chắn được công bố cho riêng vùng An Thới Đông, Lý Nhơn. Bức tranh chung là vùng Cần Giờ đã có cư dân cổ từ hàng nghìn năm trước ở các giồng cát, còn vùng bờ tây ngập triều được người Việt khai phá muộn hơn các vùng đất cao, dân cư thưa trong thời gian dài.
Vì sao người xưa chọn sống ở vùng đất mặn khó khăn này?
Vì vùng thuận lợi đã có người, còn đây có đất đai rộng và nguồn lợi sông rạch, rừng sác dồi dào. Đánh bắt, đốn củi, làm muối và làm ruộng mùa mưa đủ để sống. Người đến sau chấp nhận khó khăn về nước ngọt và đi lại để đổi lấy cơ hội làm ăn.
Sông Soài Rạp có phải là ranh giới với Long An không?
Đúng ở đoạn ven Cần Giờ. Bên kia sông Soài Rạp là vùng Cần Giuộc, Cần Đước thuộc tỉnh Long An cũ, từ tháng 7/2025 thuộc tỉnh Tây Ninh mới sau khi hai tỉnh hợp nhất. Bờ phía đông là đất xã An Thới Đông và các xã khác của TP Hồ Chí Minh.
Ruộng lúa ở An Thới Đông còn không?
Phần lớn ruộng lúa xưa đã chuyển sang vuông tôm và các hình thức canh tác khác hợp với đất mặn. Có thể còn một số khoảnh nhỏ trồng lúa hay hoa màu mùa mưa tuỳ nơi, nhưng cảnh đồng lúa rộng như ký ức người già kể không còn là cảnh quan chính của xã.
Nhà cửa xưa ở vùng này trông thế nào?
Theo lời kể và hình ảnh vùng sông nước Nam Bộ nói chung, nhà xưa phần nhiều cột bằng cây rừng, mái và vách lợp lá dừa nước, nền đắp cao hoặc làm trên cọc, quay mặt ra rạch. Ngày nay hầu hết đã thay bằng nhà gạch mái tôn, nền nâng cao hơn để chống triều cường.
Có tư liệu nào viết riêng về lịch sử khai phá Lý Nhơn không?
Các ấn phẩm lịch sử địa phương của huyện Cần Giờ cũ và các công trình địa chí thành phố có đề cập tới vùng này ở mức khái quát. Chi tiết từng ấp, từng dòng họ phần lớn chưa được xuất bản, nên ký ức và giấy tờ gia đình vẫn là nguồn quan trọng nhất.