AnThoiDong.comAn Thới Đông
Ấp xóm và con người

Người giữ rừng ở An Thới Đông: đời sống bên chòi canh và những ngày tuần rừng

Hộ nhận khoán giữ rừng ngập mặn ở An Thới Đông sống ra sao: chòi canh giữa rừng đước, đi tuần bằng xuồng, chuyện ngăn chặt phá, xả rác và cái giá của sự yên tĩnh.

Man paddling a narrow wooden canoe through a quiet mangrove creek lined with tall rhizophora roots, morning mist, a small stilt guard hut half hidden among trees, view from behind

Ở An Thới Đông, đặc biệt vùng Lý Nhơn cũ giáp rừng, có những gia đình sống bằng việc nhận khoán bảo vệ rừng ngập mặn. Mỗi hộ được giao một khoảnh rừng, dựng chòi canh ở mép rạch, đi tuần bằng xuồng, ngăn người vào chặt cây, bắt trộm hải sản trái phép, xả rác hay săn bắt động vật. Đổi lại, họ có tiền khoán theo quy định và được làm một số việc trong rừng theo hợp đồng.

Cánh rừng Cần Giờ được trồng lại sau chiến tranh và nay là một phần Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ; việc giữ rừng bằng hình thức giao khoán cho hộ dân đã kéo dài nhiều năm. Bài này không bàn chính sách giao khoán, vốn có ở mục nghề của trang, mà kể về con người: chòi canh trông thế nào, một ngày tuần rừng ra sao, gia đình người giữ rừng sống giữa rừng và giữa xã như thế nào.

Ai là người giữ rừng

Người nhận khoán giữ rừng ở An Thới Đông có nhiều gốc khác nhau. Có người từng là thanh niên xung phong, công nhân lâm nghiệp trồng rừng những năm sau 1975, ở lại và nhận khoán luôn khoảnh rừng mình trồng. Có người là nông dân trong xã nhận thêm việc giữ rừng bên cạnh vuông tôm. Có gia đình đã giữ rừng qua hai thế hệ, con nối nghề cha.

Việc giao khoán do đơn vị quản lý rừng phòng hộ của thành phố thực hiện, qua hợp đồng với từng hộ, trong đó ghi diện tích, ranh giới, trách nhiệm và quyền lợi. Mức khoán, thời hạn và những việc được phép làm trong rừng thay đổi theo từng giai đoạn chính sách, nên chỉ hợp đồng và quy định hiện hành mới là căn cứ đúng.

Người giữ rừng không phải kiểm lâm, không mặc đồng phục, không có quyền xử phạt. Việc của họ là canh giữ, phát hiện, nhắc nhở, báo cho trạm quản lý rừng và chính quyền khi có vi phạm. Họ là đôi mắt thường trực của cánh rừng, ở đó cả ngày lẫn đêm, trong khi lực lượng chuyên trách thì mỏng.

Trong xã, người ta gọi họ bằng nhiều cách: người giữ rừng, người nhận khoán, ông chòi, bà chòi theo cái chòi canh họ ở. Phần lớn là người trung niên trở lên, quen sông nước, chịu được cảnh một mình nhiều ngày. Người trẻ nhận khoán ít hơn, vì tiền khoán không đủ sống nếu không có việc khác, và vì đời sống trong chòi đòi hỏi một sự kiên nhẫn mà không phải ai cũng có.

Chòi canh giữa rừng

Vị trí. Chòi canh thường dựng ở mép rạch, chỗ nhìn được một đoạn dài mặt nước và lối vào khoảnh rừng. Có chòi chỉ đi được bằng xuồng, có chòi có bờ đất nối ra đường.

Kết cấu. Chòi dựng trên cột cao hơn mặt nước lớn, sàn ván, vách ván hoặc tôn, mái tôn. Bên trong có giường, võng, bếp nhỏ, lu nước ngọt, kệ đồ. Nhiều chòi dùng tấm pin mặt trời và bình ắc quy để thắp đèn, sạc điện thoại.

Nước ngọt. Giữa rừng ngập mặn không có nước ngọt; người giữ rừng trữ nước mưa trong mùa mưa và chở nước từ nhà vào trong mùa khô. Một lu nước ngọt ở chòi canh được dùng rất dè xẻn: nước uống, nấu cơm trước, rửa ráy sau, tắm thì tranh thủ những trận mưa.

Bạn đồng hành. Con chó canh, chiếc xuồng, cái đèn pin và chiếc điện thoại. Ở nhiều khúc rạch sóng điện thoại yếu, người ta biết chỗ nào trên sàn chòi đứng mới gọi được.

Nhịp sống bên chòi canh qua một ngày

Ngày của người giữ rừng thường bắt đầu từ sáng sớm, khi nước bắt đầu lên. Họ chèo xuồng hoặc chạy xuồng máy nhỏ dọc các rạch trong khoảnh rừng, nhìn xem có dấu chân, dấu xuồng lạ, cây bị chặt, bẫy chim, lú đặt trái phép không. Nước lớn thì xuồng vào được rạch nhỏ sâu trong rừng; nước ròng thì đi bộ trên bãi bùn ở những chỗ cần xem kỹ.

Trưa về chòi nghỉ, nấu cơm, vá lưới, sửa xuồng. Chiều lại đi một vòng nữa, nhất là những ngày cuối tuần hoặc mùa có người vào rừng bắt cua, bắt ốc nhiều. Ban đêm, người giữ rừng để ý ánh đèn lạ trên sông, tiếng máy xuồng lạ trong rạch. Đêm không trăng, rừng tối đến mức phải dựa vào tai nhiều hơn mắt.

Mùa mưa có giông, mùa khô có nắng gắt và muỗi. Người giữ rừng mặc áo dài tay, mang ủng, bôi thuốc chống muỗi, mang theo dao, đèn, điện thoại đã sạc đầy. Họ thuộc rừng như thuộc nhà: cây đước nào già, khúc rạch nào nước xoáy, bãi nào chim về đậu chiều, chỗ nào bùn lún.

Những việc họ phải ngăn

Chặt cây đước, cây mắm lấy gỗ, lấy củi, làm cọc là vi phạm phổ biến nhất trước đây. Ngày nay ít hơn nhưng vẫn còn. Người giữ rừng thấy cây bị chặt phải ghi lại, báo trạm, và nếu gặp người đang chặt thì nhắc nhở, yêu cầu dừng. Họ không được dùng vũ lực; khi đối phương đông hoặc hung hăng, việc đúng là tránh va chạm và báo ngay cho lực lượng chức năng.

Khai thác thuỷ sản trong rừng cũng có quy định riêng: được làm gì, bằng ngư cụ nào, ở đâu. Những hình thức tận diệt như dùng xung điện, chất độc là bị cấm và người giữ rừng phải báo khi phát hiện. Bẫy chim, bắt khỉ, bắt rắn, kỳ đà trong rừng cũng là điều cấm.

Rác là vấn đề mới hơn. Rác từ sông trôi vào, rác của người vào chơi bỏ lại, rác từ vuông xả ra. Người giữ rừng nhặt những gì nhặt được quanh chòi và lối rạch, báo khi thấy đổ rác số lượng lớn. Họ cũng là người phát hiện sớm những đoạn bờ bị sạt, cây chết bất thường, dấu hiệu dầu loang trên mặt nước để báo cho nơi quản lý.

Gia đình người giữ rừng

Người giữ rừng thường có hai nơi ở: nhà trong xóm và chòi trong rừng. Vợ con ở nhà trong xóm, gần đường, gần trường; người chồng ở chòi nhiều ngày rồi mới về, hoặc vợ chồng thay phiên nhau. Có gia đình dời hẳn vào chòi khi con cái đã lớn, đi làm xa.

Con cái của người giữ rừng lớn lên với chuyện rừng. Chúng biết tên từng loài cây, biết dấu chân con gì trên bùn, biết cha mẹ đi tuần lúc nào về lúc nào. Nhiều đứa học xong đi làm thành phố, nhưng khi về quê vẫn theo cha ra chòi vài hôm, chèo xuồng qua những rạch quen.

Cái giá của sự yên tĩnh là cô đơn và thiếu thốn. Người giữ rừng ít có dịp tụ họp với hàng xóm, bỏ lỡ nhiều đám tiệc trong xóm, đau ốm thì xa trạm y tế. Bù lại, nhiều người nói họ không quen nổi tiếng ồn của phố, và về chòi là thấy nhẹ người.

Khi người giữ rừng già yếu, chuyện ai nhận tiếp khoảnh rừng là chuyện cả nhà bàn. Có con cái nhận lại, có trường hợp trả lại cho đơn vị quản lý giao người khác. Dù thế nào, cái chòi cũ bên rạch vẫn thường được gia đình nhắc đến như một phần ký ức chung.

Rừng đổi thay trong mắt người giữ rừng

Những người giữ rừng lớn tuổi còn nhớ thời rừng mới trồng: bãi bồi trống trơn, cây đước non cao ngang gối, nắng không chỗ trốn. Họ nhìn cánh rừng lớn lên từng năm, tán khép lại, rạch tối dần dưới bóng cây, chim kéo về làm tổ, khỉ từ đâu xuất hiện. Với họ, rừng không phải cảnh đẹp mà là một đời người.

Họ cũng là người thấy những đổi thay không vui: có đoạn bờ rạch lở dần, cây đổ xuống nước; có mùa nước mặn hơn thường lệ; có năm rác trôi vào nhiều không kể xiết. Những quan sát ấy, ghi lại bằng trí nhớ và đôi khi bằng ảnh chụp trên điện thoại, là nguồn thông tin quý cho những người làm công tác quản lý rừng.

Khi được hỏi điều gì làm họ ở lại với nghề, nhiều người trả lời đơn giản: quen rồi, và vì cánh rừng này mình đã giữ bao năm, giao cho ai cũng không yên. Sự gắn bó ấy không được viết trong hợp đồng giao khoán, nhưng là lý do chính khiến rừng Cần Giờ còn đến hôm nay.

Người giữ rừng và xóm làng

Dù ở trong rừng nhiều, người giữ rừng vẫn là người của xóm. Họ đi đám giỗ, đám cưới khi có thể, góp công làm đường, sửa đình, ngồi quán cà phê sáng mỗi lần về nhà. Hàng xóm nhờ họ chỉ chỗ bắt cua hợp lệ, hỏi chuyện con nước, chuyện cây. Họ cũng là người khuyên bọn trẻ trong xóm đừng vào rừng bẻ cây, bắt chim.

Quan hệ giữa người giữ rừng với người làm vuông, người đánh bắt đôi khi căng thẳng. Người nuôi tôm muốn mở rộng vuông, người đánh bắt muốn vào rạch sâu, còn người giữ rừng phải nhắc ranh giới. Những va chạm ấy thường được giải quyết bằng chuyện trò trong xóm, nhờ người lớn đứng giữa, và bằng việc ai cũng hiểu rừng giữ được thì cá tôm mới còn.

Khi có bão, triều cường lớn hay cháy nhà trong xóm, người giữ rừng với chiếc xuồng và sự thông thuộc sông rạch thường là người đến giúp sớm. Vai trò ấy ít được nhắc tới nhưng người trong xã đều biết.

Khách vào rừng ở An Thới Đông nên biết

Người từ thành phố đi chơi các khu sinh thái hoặc đi xuồng trong rạch ở An Thới Đông thường gặp chòi canh rừng. Vài điều giúp không làm khó người giữ rừng:

  • Chỉ vào rừng ở những tuyến, khu được phép hoặc đi cùng người địa phương, không tự ý đi sâu vào khoảnh rừng có chòi canh.
  • Không bẻ cây, nhổ trụ mầm đước, không bắt chim, bắt khỉ, bắt cua ốc trong khu rừng đang giữ.
  • Không mở nhạc lớn, không đốt lửa, không xả rác; mang hết rác ra khỏi rừng.
  • Gặp người giữ rừng thì chào, hỏi đường nếu cần, làm theo lời nhắc của họ.
  • Không chụp ảnh người và chòi canh khi chưa hỏi.
  • Nếu thấy cây bị chặt, đặt bẫy, xả rác lớn trong rừng, có thể báo cho UBND xã hoặc đơn vị quản lý rừng.

Mỗi người vào rừng tôn trọng những điều này là đỡ cho người giữ rừng một phần việc, và giữ cho khu rừng mà chính khách đến để ngắm.

Câu hỏi thường gặp

Giao khoán bảo vệ rừng ở An Thới Đông là gì?

Là hình thức đơn vị quản lý rừng phòng hộ ký hợp đồng với hộ dân để họ canh giữ một khoảnh rừng ngập mặn, đổi lại hộ nhận tiền khoán và được làm một số việc theo hợp đồng. Mức khoán, thời hạn, quyền lợi thay đổi theo chính sách từng giai đoạn.

Người giữ rừng có quyền xử phạt người vi phạm không?

Không. Người nhận khoán có nhiệm vụ canh giữ, nhắc nhở, ghi nhận và báo cho trạm quản lý rừng, kiểm lâm hoặc chính quyền. Việc xử lý vi phạm thuộc lực lượng có thẩm quyền theo quy định.

Người giữ rừng sống ở đâu?

Thường có chòi canh ở mép rạch trong khoảnh rừng và nhà chính trong xóm. Nhiều người ở chòi nhiều ngày rồi mới về, hoặc vợ chồng thay phiên. Chòi dùng nước mưa trữ hoặc nước chở từ nhà, điện từ pin mặt trời.

Khách có được vào khoảnh rừng đang giao khoán không?

Nên chỉ vào các khu, tuyến được phép tham quan hoặc đi cùng người địa phương. Đi sâu vào khoảnh rừng đang giữ mà không hỏi có thể bị nhắc nhở và dễ gặp nguy hiểm do bùn lún, nước lên nhanh.

Muốn nhận khoán giữ rừng thì hỏi ở đâu?

Việc giao khoán do đơn vị quản lý rừng phòng hộ của thành phố thực hiện theo kế hoạch và tiêu chí riêng. Người quan tâm nên hỏi UBND xã An Thới Đông hoặc trạm quản lý rừng gần nhất để biết hiện có đợt giao khoán nào và điều kiện ra sao.

Thấy người chặt cây hay đặt bẫy trong rừng thì nên làm gì?

Không nên tự đối đầu. Ghi nhớ vị trí, thời gian, đặc điểm rồi báo cho người giữ rừng gần đó, UBND xã hoặc đơn vị quản lý rừng. Thông tin sớm giúp lực lượng chức năng xử lý kịp.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.