Người An Thới Đông hôm nay là sự chồng lớp của ít nhất ba lớp cư dân: những gia đình bám đất ven sông Soài Rạp từ trước chiến tranh, những người về đây trồng lại rừng và khai hoang sau năm 1975, và những người đến muộn hơn vì con tôm, ruộng muối hay một miếng đất rộng ven thành phố. Họ sống xen nhau trong cùng một ấp, cùng nhìn con nước mà làm ăn, nên khác biệt về gốc gác ít khi lộ ra trong đời thường.
Từ ngày 1/7/2025, khi TP Hồ Chí Minh bỏ cấp huyện, xã An Thới Đông mới được ghép từ phần lớn xã An Thới Đông cũ và toàn bộ xã Lý Nhơn cũ của huyện Cần Giờ; một phần An Thới Đông cũ nhập sang xã Bình Khánh. Bài này đi qua từng lớp người, chỗ họ ở, cái nghề gắn với họ và những nếp chung mà người mới đến nên hiểu trước khi làm quen với hàng xóm.
Hai vùng cũ trong một xã mới
Người trong xã vẫn quen gọi theo tên cũ. Nói "dưới Lý Nhơn" là nói vùng phía nam, sát rừng, nơi có ruộng muối, vuông tôm và khu sinh thái Vàm Sát. Nói "trên An Thới Đông" là nói phần gần phà Bình Khánh hơn, nơi nhà cửa dày hơn, có chợ, trường và đường xá thuận tiện hơn. Hai vùng nối nhau bằng đường Rừng Sác và các đường nhánh đi vào ấp, cùng nằm dọc bờ Soài Rạp, con sông lớn ngăn xã với Cần Giuộc, Cần Đước của tỉnh Long An cũ, nay thuộc Tây Ninh.
Khác biệt giữa hai vùng không nằm ở giọng nói hay phong tục mà ở nhịp làm ăn. Phần An Thới Đông cũ có nhiều nhà buôn bán nhỏ, nhiều người đi làm ở Nhà Bè, Quận 7 và nội thành mỗi ngày. Phần Lý Nhơn cũ xa trung tâm hơn, nhà thưa hơn, đời sống bám chặt vào ruộng muối, vuông tôm và rừng; đi một chuyến ra phà đã là một việc phải tính trước.
Sau sáp nhập, giấy tờ ghi chung một tên xã, nhưng người ta vẫn nói "người Lý Nhơn", "người An Thới Đông" để chỉ chỗ ở, cũng như người Sài Gòn vẫn nói Gò Vấp hay Thủ Đức. Người mới về nên quen cả hai lối gọi để khỏi lạc khi hỏi đường hay hỏi nhà.
Phần An Thới Đông cũ đã chuyển sang xã Bình Khánh cũng tạo ra một tình huống quen thuộc sau sáp nhập: có những gia đình vẫn tự gọi mình là người An Thới Đông dù giấy tờ mới ghi xã Bình Khánh, và ngược lại. Khi cần xác định nhà mình thuộc xã nào để làm giấy tờ, cách chắc nhất là hỏi trưởng ấp hoặc bộ phận tiếp nhận hồ sơ của xã, đừng dựa vào cách gọi quen miệng.
Lớp người ở lâu đời: bám giồng, bám doi ven sông
Chỗ ở đầu tiên là đất cao. Trên vùng đất phù sa mặn và thấp, người xưa chọn những giồng đất, doi đất nhô ra sông để cất nhà, vì ở đó nước lớn ít tràn vào. Những tên đất như Doi Lầu, Rạch Lá trong vùng An Thới Đông cũ còn giữ dấu cách định cư này: doi là mũi đất ven sông, rạch là đường nước nhỏ mà ghe xuồng ra vào được.
Nghề cũ là ruộng, chài và rừng. Các gia đình lâu đời từng trồng lúa một vụ trên ruộng nhiễm mặn, đặt lú, giăng lưới trên Soài Rạp, đốn củi, đốt than, cắt lá dừa nước lợp nhà. Phần lớn những nghề đó nay đã đổi, nhưng người lớn tuổi vẫn nhớ từng con rạch nào nhiều cá, khúc sông nào nước xoáy.
Chiến tranh làm đứt đoạn. Vùng Rừng Sác là chiến trường ác liệt, rừng bị rải chất làm rụng lá, nhiều nhà phải rời đi rồi mới quay lại sau năm 1975. Vì vậy ít nhà trong xã giữ được nhiều đời liên tục ở một chỗ; hỏi chuyện gia đình, người ta hay kể "ông bà ở đây, rồi đi, rồi về".
Cách nhận ra nhà lâu đời. Thường là nhà có mồ mả ông bà ngay trong vườn, có cây dừa, cây bần già trước bến, có bàn thờ tổ tiên lớn giữa nhà, và là nhà mà hàng xóm hay ghé hỏi chuyện đất đai, ranh giới, giỗ chạp. Họ cũng là người hay đứng ra lo việc đình, việc miếu trong ấp.
Lớp người về sau 1975: trồng rừng và khai hoang
Sau chiến tranh, rừng ngập mặn Cần Giờ được trồng lại trên diện rộng, phần nhiều bằng cây đước. Lực lượng thanh niên xung phong của thành phố và công nhân các đơn vị lâm nghiệp là những người làm việc này nhiều năm liền, sống trong lán trại giữa bãi bồi. Một số người trong họ ở lại, lập gia đình với người địa phương, nhận đất, nhận khoán giữ rừng và trở thành người của xã.
Lớp người này mang theo giọng nói và thói quen của nhiều nơi: có người gốc nội thành, có người từ các tỉnh miền Tây, miền Trung. Con cháu họ nay đã là người An Thới Đông chính hiệu, nhưng trong bữa cơm đôi khi vẫn còn một món ăn quê nội, một cách cúng giỗ hơi khác hàng xóm. Người địa phương coi đó là chuyện bình thường, không ai hỏi gốc để phân biệt.
Điều nhóm cư dân này để lại rõ nhất là quan hệ gắn bó với rừng. Nhiều gia đình coi cánh rừng mình từng trồng hoặc đang giữ là một phần tài sản tinh thần, dù đất rừng phòng hộ không phải đất của riêng ai. Khi người lạ vào rừng bẻ cây, bắt chim hay xả rác, chính họ là người lên tiếng đầu tiên.
Lớp người đến vì con tôm và ruộng muối
Từ những năm 1990 trở đi, nuôi tôm nước lợ lan rộng ở vùng ven sông Cần Giờ. Nhiều ruộng lúa nhiễm mặn, một phần ruộng muối được đào thành vuông tôm. Cùng với con tôm là một lớp người mới: người từ Long An, Tiền Giang, Bến Tre và các tỉnh miền Tây sang thuê vuông, làm công canh vuông, hoặc mua đất lập nghiệp. Có người ở hẳn, có người chỉ ở theo vụ rồi về quê.
Ở vùng Lý Nhơn cũ, nghề muối kéo theo những người đi làm công theo mùa khô: cào muối, gánh muối, đắp bờ. Khi nghề muối thu hẹp, một phần trong số đó chuyển sang nuôi tôm, nuôi cua hoặc đi làm xa. Câu chuyện "nhà này trước làm muối, giờ nuôi tôm" rất phổ biến khi đi dọc các ấp phía nam.
Lớp người đến muộn thường sống gần vuông của mình, nhà cất đơn sơ, có khi chỉ là cái chòi kiên cố hơn một chút. Quan hệ với hàng xóm của họ đi qua con nước và cái cống: ai lấy nước trước, ai xả nước sau, có bệnh tôm thì báo nhau. Hiểu điều này giúp người mới thấy vì sao ở vùng vuông tôm, chuyện láng giềng quan trọng không kém chuyện kỹ thuật.
Nếp chung: sống theo con nước
Giờ giấc theo nước lớn, nước ròng. Người làm vuông canh giờ nước để lấy nước, xả nước; người làm muối canh nắng; người đi sông canh nước ròng để khỏi chạy ngược dòng. Hẹn ai đó ở xã, nhiều khi câu trả lời là "chờ nước xuống rồi tính" chứ không phải một giờ cụ thể.
Xưng hô theo thứ và theo con. Như khắp Nam Bộ, người trong ấp gọi nhau theo thứ trong nhà (anh Hai, chị Ba, chú Tư) hoặc gọi cha mẹ theo tên con. Người mới về được gọi theo tên chủ nhà hay theo nghề, rồi dần mới có cách gọi riêng.
Tiếng địa phương của vùng sông mặn. Vuông là ao nuôi tôm có bờ bao; nước rông là nước lớn đầu tháng, giữa tháng âm lịch; vàm là chỗ rạch đổ ra sông; doi là mũi đất. Nghe quen những chữ này là nghe được nửa câu chuyện của người trong xã.
Thẳng, nhanh và giúp nhau. Người An Thới Đông nói chuyện thẳng, không vòng vo, mời ăn là mời thật. Nhà có việc thì hàng xóm qua phụ mà không cần mời nhiều lần, nhưng ai cũng nhớ ai đã giúp mình để trả lại khi người kia có việc.
Người An Thới Đông đi xa và sợi dây với quê
Như nhiều vùng ven đô, An Thới Đông có rất nhiều người đi làm, đi học ở nội thành, ở các khu công nghiệp phía nam thành phố hoặc ở các tỉnh khác. Có người đi về trong ngày qua phà Bình Khánh, có người ở trọ cả tuần, cuối tuần mới về, có người đã lập gia đình và ở hẳn nơi khác. Dù vậy, sợi dây với quê vẫn được giữ bằng những dịp rất cụ thể: đám giỗ ông bà, Tết, mùa thu hoạch tôm, một đám cưới trong họ.
Người đi xa thường gửi tiền về sửa nhà, nâng nền, mua máy bơm, đào lại vuông cho cha mẹ. Khi cha mẹ già yếu, không ít người quay về nhận lại vuông tôm, mảnh vườn, rồi vừa làm vừa đi chợ đầu mối hay chạy xe giao hàng. Vòng đi rồi về này lặp lại qua nhiều thế hệ, khiến dân số trong xã không tăng nhiều nhưng cũng không vơi hẳn.
Với người quê An Thới Đông đang ở xa, đọc tin về xã là cách giữ liên lạc: biết đường nào mới làm, ấp nào đổi tên, giấy tờ sau sáp nhập ghi thế nào, mùa này tôm được hay mất. Nhiều người lớn tuổi ở xã nói vui rằng con cháu ở thành phố nhưng ngày nào cũng hỏi chuyện con nước.
Người mới đến nên hiểu gì khi làm quen
Dù về ở hẳn, về thuê vuông hay chỉ ghé thăm họ hàng, mấy điều dưới đây giúp người mới hòa vào ấp xóm nhanh hơn:
- Chào hỏi trước, hỏi chuyện sau. Đi ngang nhà ai đang ngồi trước hiên, một câu chào và vài câu thăm hỏi đơn giản mở được nhiều cửa hơn mọi lời giới thiệu.
- Đừng tự ý đi lên bờ vuông, bờ ruộng muối nhà người ta. Bờ vuông là ranh đất và là đường đi của chủ, giẫm sụp bờ là gây thiệt hại thật.
- Hỏi trước khi chụp ảnh người, nhà và vuông. Nhiều người không thích bị chụp lúc đang làm việc lấm lem.
- Tôn trọng giờ ngủ sớm và giờ dậy sớm. Người làm vuông, làm muối thường dậy lúc trời chưa sáng; nhậu khuya ồn ào là chuyện dễ mất lòng.
- Nhà có đám, có giỗ thì nên ghé thăm hoặc gửi lời, kể cả khi chưa thân. Đó là cách người trong ấp ghi nhận một người hàng xóm mới.
- Có chuyện ranh đất, nước, đường đi thì nói thẳng với chủ nhà hoặc nhờ trưởng ấp, đừng để bụng rồi làm căng.
Phần lớn người mới về kể lại rằng năm đầu tiên là năm "học sống": học canh nước, học muỗi, học chào hàng xóm. Qua được năm đó, họ thường ở lâu.
Câu hỏi thường gặp
Người An Thới Đông có phải đa số là người gốc Cần Giờ không?
Không hẳn. Ngoài những gia đình ở lâu đời ven sông, xã có nhiều người về sau năm 1975 để trồng rừng, khai hoang và những người từ Long An, miền Tây sang làm vuông tôm. Qua vài thế hệ, ranh giới gốc gác mờ dần, ai sống ở đây lâu đều tự nhận là người An Thới Đông.
Xã An Thới Đông mới gồm những vùng nào?
Theo sắp xếp từ ngày 1/7/2025, xã An Thới Đông mới gồm phần lớn xã An Thới Đông cũ và toàn bộ xã Lý Nhơn cũ của huyện Cần Giờ; một phần An Thới Đông cũ chuyển sang xã Bình Khánh. Ranh giới chi tiết theo ấp nên hỏi tại UBND xã.
Giọng nói và phong tục ở đây có gì khác với nội thành?
Giọng là giọng Nam Bộ như ở thành phố, nhưng nhiều từ của vùng sông mặn như vuông, vàm, doi, nước rông. Phong tục cúng giỗ, đám tiệc giống miền Tây hơn nội thành: làm tại nhà, có rạp, hàng xóm phụ nấu.
Người ngoài về sống có dễ được chấp nhận không?
Thường là dễ nếu chịu chào hỏi, tôn trọng ranh đất, bờ vuông và giờ giấc làm việc của hàng xóm. Va chạm hay đến từ chuyện nước, đường đi, tiếng ồn hơn là chuyện gốc gác.
Muốn tìm hiểu lịch sử gia đình hay dòng họ ở xã thì hỏi ai?
Người lớn tuổi trong ấp, ban quý tế đình hoặc những người hay lo việc miếu là nguồn hỏi tốt. Giấy tờ hộ tịch cũ, nếu cần, thì liên hệ UBND xã để biết hồ sơ đang lưu ở đâu sau khi bỏ cấp huyện.
Vì sao nhiều người nói "trên An Thới Đông, dưới Lý Nhơn"?
Vì đi từ phà Bình Khánh vào theo đường Rừng Sác, vùng An Thới Đông cũ ở gần hơn, còn vùng Lý Nhơn cũ ở sâu về phía nam, sát rừng và ruộng muối. Cách gọi trên, dưới theo đường đi này vẫn dùng sau khi hai xã gộp lại.