Người nuôi tôm ở An Thới Đông sống theo nhịp của cái vuông: lấy nước, xả nước theo con nước, cho tôm ăn theo cữ, canh máy quạt nước suốt đêm với vuông nuôi dày, và lo nhất là một buổi sáng thấy tôm nổi đầu, dạt bờ. Phần lớn họ là nông dân trong xã chuyển từ lúa, từ muối sang tôm; một phần là người từ Long An, miền Tây sang thuê đất nuôi.
Bài này nói về con người phía sau những vuông tôm dọc rạch và ven rừng ở An Thới Đông và vùng Lý Nhơn cũ: cái chòi canh, giờ giấc, nỗi lo, chuyện vốn liếng, quan hệ với hàng xóm cùng con cống và với vựa thu mua. Kỹ thuật nuôi và bài toán kinh tế của nghề có ở mục nghề muối, tôm và rừng của trang; ở đây là đời sống.
Từ ruộng lúa, ruộng muối sang vuông tôm
Trên đất phèn mặn ven sông Soài Rạp, cây lúa chỉ làm được một vụ và năng suất bấp bênh. Khi nuôi tôm nước lợ lan rộng ở Cần Giờ từ những năm 1990, nhiều gia đình ở An Thới Đông đào ruộng thành vuông, đắp bờ bao, đặt cống lấy nước từ rạch. Ở vùng Lý Nhơn cũ, một phần ruộng muối cũng chuyển sang nuôi tôm hoặc luân canh muối – tôm.
Cách nuôi cũng thay đổi theo thời gian. Ban đầu chủ yếu là nuôi quảng canh, thả thưa, dựa vào nguồn nước và thức ăn tự nhiên. Sau đó có nhà chuyển sang nuôi dày hơn, dùng máy quạt nước, ao lót bạt, thức ăn công nghiệp. Mỗi cách nuôi kéo theo một kiểu sống: quảng canh thì nhàn hơn nhưng thu ít, thâm canh thì thu nhiều hơn nhưng thức trắng nhiều đêm và vốn lớn.
Ở nhiều vuông vùng ven rừng, người ta nuôi kết hợp tôm với cua, cá, hoặc nuôi dưới tán rừng theo quy định giao khoán. Mỗi nhà một kiểu, tuỳ đất, vốn và kinh nghiệm, nên đi dọc các ấp sẽ thấy cạnh nhau có vuông rộng nước đục mặt, có ao tròn lót bạt đen chạy máy quạt rì rào.
Cái chòi canh vuông
Hình dáng. Chòi canh là căn nhà nhỏ dựng trên cột ở góc vuông hoặc trên bờ, vách ván hay tôn, đủ chỗ cho một chiếc võng, cái giường, bếp nhỏ, kho thức ăn tôm. Nhiều chòi có tấm pin mặt trời hoặc dây điện kéo từ nhà, có đèn pha soi xuống mặt nước.
Công dụng. Chòi là nơi người nuôi ở lại canh tôm, canh máy, canh trộm, nhất là những tuần tôm sắp thu hoạch. Với vuông xa nhà, chòi gần như là nhà thứ hai, có người ở cả tháng mới về nhà chính vài lần.
Người ở chòi. Có khi là chủ vuông, có khi là người làm công canh vuông nhận lương tháng hoặc ăn chia. Nhiều người canh vuông là người tỉnh khác sang, sống một mình, có con chó nhỏ làm bạn, quen biết hàng xóm qua những lần qua lại trên bờ.
Đời sống trong chòi. Đêm có muỗi, có gió sông, có tiếng máy quạt nước. Ăn uống giản đơn: cơm, cá bắt dưới rạch, rau trồng trên bờ. Điện thoại là cửa sổ duy nhất ra ngoài; sóng yếu ở nhiều khúc rạch nên người ta phải leo lên chỗ cao mới gọi được.
Những đêm thức canh
Với vuông nuôi dày, đêm là lúc đáng lo nhất. Về đêm, tảo trong nước không quang hợp, lượng ôxy hoà tan giảm, tôm dễ bị ngộp nếu máy quạt nước ngừng. Người nuôi vì vậy canh máy suốt đêm, đi vòng bờ soi đèn xem tôm có nổi đầu không, nghe tiếng máy có đều không. Cúp điện giữa đêm là lúc cả nhà bật dậy, chạy máy phát.
Những đêm mưa lớn, nước mưa làm thay đổi độ mặn và nhiệt độ nước đột ngột, người nuôi lại thêm việc. Những ngày nắng gắt, nước vuông nóng, cũng phải theo dõi sát. Người làm lâu năm nói họ ngủ "bằng tai": đang ngủ mà tiếng máy quạt đổi nhịp là tỉnh ngay, chưa kịp mở mắt đã với tay tìm đèn pin.
Thức đêm nhiều mùa liền làm người ta mệt, gầy, dễ cáu. Vợ chồng thường chia ca, người thức nửa đêm đầu, người thức nửa đêm sau. Con cái lớn cũng có khi được giao canh vài giờ. Những tuần trước thu hoạch, cả nhà gần như sống ngoài chòi.
Nỗi lo dịch bệnh và một buổi sáng xấu
Không ai trong nghề tôm muốn kể về buổi sáng thấy tôm dạt bờ, nổi đầu, ăn yếu rồi chết dần. Dịch bệnh có thể xoá sạch một vụ trong vài ngày, đi cùng với nó là tiền giống, tiền thức ăn, tiền điện, tiền thuốc xử lý nước đã bỏ ra. Người nuôi ở An Thới Đông, cũng như khắp vùng nuôi tôm nước lợ, sống chung với nỗi lo đó mỗi vụ.
Khi vuông có bệnh, người ta thường liên lạc với cán bộ khuyến nông, đại lý thuốc thú y thuỷ sản hoặc người nuôi giỏi trong xóm để hỏi cách xử lý. Một số trường hợp phải báo cho chính quyền địa phương để được hướng dẫn và để tránh lây sang vuông khác. Việc xả nước vuông bệnh thẳng ra rạch chung là điều cả xóm sợ nhất.
Sau một vụ mất, có nhà nghỉ một thời gian cho ao nghỉ, có nhà vay mượn để thả lại ngay. Những người nuôi lâu năm học được cách không bỏ hết vốn vào một vụ, chia vuông thả lệch thời gian, nuôi kết hợp nhiều loài để rủi ro không dồn một chỗ. Không có công thức nào đảm bảo không mất, nhưng có cách để mất không đến mức trắng tay.
Phụ nữ trong nhà nuôi tôm
Người ngoài hay nghĩ nuôi tôm là việc của đàn ông, nhưng ở An Thới Đông, phụ nữ gánh một nửa nghề. Họ cho tôm ăn theo cữ, kiểm tra nhá, tức cái vó nhỏ đặt dưới nước để xem tôm ăn hết thức ăn chưa, ghi chép lượng thức ăn từng ngày, theo dõi giá, đi đại lý mua thức ăn, thuốc, vôi. Nhiều nhà, người vợ là người giữ sổ và quyết định bán khi nào.
Phụ nữ cũng là người lo phần sau của vụ tôm: nấu cơm cho người làm công ngày thu hoạch, chuẩn bị nước đá, thùng, rổ, đi theo xe tôm ra vựa để cân, nhận tiền. Khi tôm mất mùa, họ là người xoay xở chuyện nợ thức ăn, chuyện học phí của con, chuyện đám tiệc phải đi.
Ở những nhà chồng đi làm xa, người vợ một mình giữ vuông với sự giúp đỡ của hàng xóm và người làm công. Những người phụ nữ ấy học kỹ thuật từ cán bộ khuyến nông, từ các buổi tập huấn, từ chính những vụ mất. Họ ít khi kể chuyện mình, nhưng hỏi bất kỳ ai trong ấp, người ta đều chỉ được vài chị nuôi tôm giỏi hơn cả đàn ông.
Láng giềng chung cống: luật miệng giữa các vuông
Lấy nước và xả nước. Nhiều vuông lấy nước từ cùng một con rạch, có khi qua cùng một cái cống chung. Ai cũng muốn lấy nước sạch lúc nước lớn, nên người nuôi thường thoả thuận giờ lấy, không xả nước bẩn lúc hàng xóm đang lấy.
Báo bệnh. Thấy vuông mình có dấu hiệu bệnh, người nuôi có trách nhiệm báo cho các vuông chung nguồn nước. Giấu bệnh để bán chạy tôm là chuyện bị cả xóm coi là thất đức.
Bờ bao chung. Bờ giữa hai vuông là ranh đất và cũng là đường đi. Hai bên cùng giữ, cùng sửa khi sạt. Đào sâu sát bờ chung làm yếu bờ hàng xóm là nguyên nhân hay gây xích mích.
Canh giùm. Khi một nhà có việc phải đi, người vuông bên cạnh canh máy, cho ăn giùm vài cữ. Đổi lại, khi nhà kia có việc, mình làm giùm. Đó là quan hệ tương trợ không ai viết ra nhưng ai cũng nhớ.
Trộm tôm. Những tuần trước thu hoạch, trộm tôm là nỗi lo có thật. Hàng xóm báo nhau khi thấy xuồng lạ, người lạ đi lại trên bờ ban đêm, và cùng nhau báo ấp khi chuyện lặp lại nhiều lần.
Vốn liếng, vựa thu mua và Tết của người nuôi tôm
Nuôi tôm cần vốn trước: tiền con giống, thức ăn, điện, thuốc, công cải tạo ao. Nhiều nhà xoay vốn bằng tiền để dành, vay ngân hàng, vay người quen hoặc mua chịu thức ăn ở đại lý, trả khi thu hoạch. Mua chịu tiện nhưng giá thường cao hơn và ràng buộc người nuôi với đại lý; người làm lâu năm khuyên nhau tính kỹ trước khi nhận chịu quá nhiều.
Khi thu hoạch, tôm được bán cho vựa thu mua trong xã hoặc thương lái đến tận bờ. Giá tôm lên xuống theo kích cỡ, theo thị trường, theo mùa, nên người nuôi theo dõi giá qua người quen, qua các vựa, rồi quyết định thu hoạch sớm hay nuôi thêm. Quan hệ lâu năm với một vựa sòng phẳng là tài sản quý của nhà nuôi tôm.
Tết của người nuôi tôm phụ thuộc vào vụ cuối năm. Được mùa thì sửa nhà, sắm sửa, làm đám cưới cho con; mất mùa thì Tết đạm bạc, có người vẫn ở chòi canh vuông qua giao thừa. Ở An Thới Đông, nhìn cách một xóm đón Tết là đoán được năm đó con tôm ra sao.
Cũng vì vậy mà người nuôi tôm trong xã rất quý những năm bình thường, không trúng lớn cũng không mất trắng. Một vụ đều tay, trả xong nợ đại lý, còn dư chút đỉnh sửa lại cái chòi, mua thêm cái máy quạt, đủ để cả nhà ăn Tết yên ổn, là điều nhiều người mong hơn cả một vụ trúng đậm rồi mấy vụ liền mất.
Người mới định thuê vuông nuôi tôm ở xã nên hỏi gì
Không ít người từ nơi khác về An Thới Đông thuê vuông nuôi tôm. Trước khi ký thuê, người làm lâu năm thường khuyên hỏi rõ những điều sau:
- Vuông lấy nước từ rạch nào, chung cống với những ai, các vuông xung quanh đang nuôi gì và vụ trước có bệnh không.
- Bờ bao còn chắc không, có bị rò không, chòi canh và điện có sẵn không.
- Loại đất và giấy tờ của khu đất; đất nằm trong hay giáp rừng phòng hộ thì có những hạn chế gì.
- Thời hạn thuê, cách trả tiền, ai chịu chi phí cải tạo ao, khi trả lại vuông phải ở tình trạng nào.
- Đường ra vào chở thức ăn, chở tôm đi bán có thuận không trong mùa mưa và lúc triều cường.
- Hàng xóm có sẵn lòng chỉ việc không. Ở vùng tôm, một người láng giềng tốt đáng giá hơn một mét bờ bao.
Câu hỏi thường gặp
Nuôi tôm ở An Thới Đông chủ yếu là kiểu nào?
Có cả nuôi quảng canh trên vuông rộng dựa vào nước tự nhiên, nuôi kết hợp tôm với cua, cá, và nuôi dày hơn trong ao có máy quạt nước, có khi lót bạt. Tỷ lệ mỗi kiểu thay đổi theo thời gian và từng ấp, không có con số cố định.
Vì sao người nuôi tôm phải thức canh ban đêm?
Ban đêm ôxy hoà tan trong nước giảm vì tảo không quang hợp, tôm dễ ngộp nếu máy quạt nước ngừng. Mưa lớn hay cúp điện ban đêm làm tình hình xấu nhanh. Vì vậy người nuôi dày thường canh máy và đi vòng bờ suốt đêm.
Khi vuông tôm có dấu hiệu bệnh thì nên làm gì?
Hỏi ý kiến cán bộ khuyến nông, thú y thuỷ sản hoặc người có kinh nghiệm, báo cho các vuông chung nguồn nước và không xả nước bệnh ra rạch chung. Một số trường hợp cần báo chính quyền địa phương để được hướng dẫn theo quy định.
Thuê vuông nuôi tôm ở An Thới Đông cần chú ý gì về pháp lý?
Nên xem giấy tờ đất, loại đất và việc khu đất có nằm trong hoặc giáp rừng phòng hộ không, vì mỗi loại có quy định riêng. Hợp đồng thuê nên ghi rõ thời hạn, cách trả tiền, trách nhiệm cải tạo ao. Có thể hỏi UBND xã về quy định hiện hành.
Người canh vuông thuê sống như thế nào?
Họ thường ở chòi canh cạnh vuông, nhận lương tháng hoặc ăn chia theo vụ, lo cho tôm ăn, canh máy, canh trộm. Đời sống đơn giản, xa nhà, ít điện, sóng điện thoại yếu ở nhiều chỗ; quan hệ với hàng xóm vuông bên cạnh rất quan trọng với họ.
Nghề nuôi tôm có còn hợp với người trẻ ở xã không?
Còn với người chịu học kỹ thuật, chịu thức khuya và có cách quản lý rủi ro. Nhiều người trẻ kết hợp nuôi tôm với việc khác, hoặc nuôi theo nhóm để chia sẻ vốn và kinh nghiệm. Rủi ro dịch bệnh và giá cả vẫn là điều phải tính trước.